Điều chỉnh giảm, nhưng không nhiều
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, không ít ngân hàng thương mại đã giảm lãi suất cho vay từ giữa tuần qua, nhưng cũng chỉ dao động trong khoảng 0,5-1%/năm cho cả cá nhân và doanh nghiệp.
Chẳng hạn, HDBank đồng thời triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp với lãi suất từ 8%/năm, góp phần giảm chi phí vốn và hỗ trợ nhu cầu sản xuất kinh doanh. Theo Ban lãnh đạo HDBank, lợi thế về thanh khoản cùng cơ cấu tín dụng tập trung vào bán lẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), tài trợ chuỗi giá trị và các phân khúc có biên sinh lời phù hợp giúp Ngân hàng duy trì sự cân bằng giữa hỗ trợ khách hàng và hiệu quả hoạt động.
Tại LPBank, từ 11/8 đến hết tháng 12/2026 sẽ triển khai gói tín dụng quy mô 2.000 tỷ đồng dành cho SME, với ưu đãi giảm lãi suất tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay thông thường. Chương trình tập trung vào 3 nhu cầu thiết yếu gồm bổ sung vốn lưu động, phát hành bảo lãnh, tài trợ xuất khẩu.
Nam A Bank thực hiện điều chỉnh giảm biểu lãi suất niêm yết tối đa 0,5%/năm cho doanh nghiệp và 0,5-0,7%/năm cho cá nhân vay vốn. BVBank triển khai gói vay ưu đãi với tổng hạn mức 2.500 tỷ đồng hỗ trợ các SME, lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mặt bằng chung. Lãi vay sau khi giảm chỉ từ 9,7%/năm nhằm tiếp sức kịp thời cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh tối ưu chi phí vận hành.
NCB cũng giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Theo đó, lãi suất ưu đãi chỉ còn từ 8,49%/năm đối với khách hàng cá nhân, trong khi khách hàng SME được giảm 0,5%/năm lãi suất ở tất cả các kỳ hạn vay, xuống còn lãi suất ngắn hạn từ 10%/năm trong 3 tháng đầu giải ngân.
Với nhóm ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, Agribank công bố triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng từ nay đến năm 2028. Lãi suất ưu đãi giảm từ 1-2%/năm so với lãi vay bình quân cùng kỳ hạn, áp dụng với khách hàng doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế.
BIDV công bố gói tín dụng lãi suất thấp 50.000 tỷ đồng, áp dụng từ tháng 8 đến hết tháng 12/2026 hoặc đến khi giải ngân hết quy mô gói. Doanh nghiệp khi vay vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh sẽ được hưởng lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 1%/năm so lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn hiện hành tại Ngân hàng.
VietinBank cũng đưa ra gói tín dụng 50.000 tỷ đồng được triển khai đến hết năm 2028, lãi suất ưu đãi thấp hơn 1%/năm so lãi vay thông thường cùng kỳ hạn. Với các khoản vay trung - dài hạn, thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi lên tới 12 tháng.
Ông Phạm Như Ánh - Tổng giám đốc MB cho biết, do thanh khoản hệ thống chưa cải thiện đáng kể nên mặt bằng lãi suất khó có thể giảm sâu. Theo ông Ánh, trong bối cảnh hiện tại, khi tập trung phát triển mạnh kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng thì nhu cầu vốn sẽ rất lớn, từ nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp và cá nhân cũng như các siêu dự án, trong khi nguồn cung lại hạn chế, nên theo đúng quy luật cung - cầu thì mặt bằng lãi suất sẽ phải tăng. Tuy nhiên, nhờ có các biện pháp kịp thời của nhà điều hành yêu cầu các ngân hàng giữ ổn định lãi suất nên mặt bằng lãi suất đầu vào được kiểm soát, nhờ đó duy trì được mặt bằng lãi suất đầu ra. Ông Ánh dự báo rằng, từ nay đến cuối năm, về cơ bản mặt bằng lãi suất sẽ đi ngang.
Trên thực tế, lãi suất huy động liên tục đi lên từ giữa năm 2025 đến nay, trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh và nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế. Theo các chuyên gia tài chính, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới không nhiều, đặt các doanh nghiệp phải tìm thêm các kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng, đặc biệt là nhóm SME.
Áp lực thanh khoản vẫn lớn
Trong bối cảnh nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao tiếp tục lớn, việc đa dạng hóa nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đồng thời hạn chế áp lực lên hệ thống tài chính.
Với vai trò là nhà cung ứng vốn chủ đạo cho nền kinh tế, tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng tiếp tục tăng trong nửa đầu năm, nhiều nơi tăng trưởng 2 chữ số. Ngân hàng Nhà nước cho hay, tính đến ngày 29/7/2026, tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 20,15 triệu tỷ đồng, tăng 8,38% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng huy động vốn vẫn chậm, hụt hơn 2 triệu tỷ đồng so với tăng trưởng cho vay, cho thấy áp lực lãi suất và thanh khoản đã lộ rõ. Vì thế, bên cạnh tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm, nhiều ngân hàng liên tục đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi với mức lãi suất hấp dẫn, nhất là ở các kỳ hạn ngắn.
Theo Báo cáo Cập nhật ngành ngân hàng của SSI Research, tính đến hết quý II/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) toàn ngành ở mức cao 102,4% - phản ánh áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu, dù con số này đã cải thiện so với mức 113% cuối quý trước đó. Các ngân hàng chưa hết lo ngại áp lực thanh khoản trong nửa cuối năm, khi nhu cầu vốn tín dụng thường tăng mạnh trong thời gian này.
TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho biết, lãi suất huy động bắt đầu tăng từ giữa năm 2025 khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế được điều chỉnh lên mức cao hơn. Từ quý III/2025, tín dụng được nới room (hạn mức) và cả năm tăng khoảng 19% - mức cao nhất trong 10 năm qua.
Theo ông Lực, tín dụng tăng khiến các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động vốn. Trong khi đó, người dân có nhiều lựa chọn đầu tư khác như vàng, chứng khoán, bất động sản hay tài sản số, buộc lãi suất tiền gửi phải duy trì mức đủ hấp dẫn để giữ dòng tiền trong hệ thống. Bên cạnh đó, kỳ vọng lạm phát tăng và nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế cũng tạo thêm áp lực lên mặt bằng lãi suất. Nếu lãi suất huy động giảm quá nhanh, dòng tiền có thể dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác, qua đó càng gây sức ép lên thanh khoản ngân hàng.
Theo các chuyên gia tài chính, trong bối cảnh nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao tiếp tục lớn, việc đa dạng hóa nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đồng thời hạn chế áp lực lên hệ thống tài chính. Vì vậy, giải pháp cần phải gia tăng sự đóng góp của thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư) lên 1,5-1,7 lần, tương đương tăng 25-27%, thì mới đảm bảo cân bằng và bền vững.
Theo tính toán của Nhóm Viện nghiên cứu kinh tế BIDV (không theo cách tính của Cục Thống kê - Bộ Tài chính), hiện vốn tín dụng chiếm 50-51% toàn bộ nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế. Trong khi đó, 6 tháng đầu năm nay, thị trường cổ phiếu đóng góp còn tương đối khiêm tốn khoảng 6,4% và thị trường trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 7%. Còn lại, vốn đầu tư công chiếm khoảng 12-15%; vốn FDI đóng góp khoảng 12%.
Với khu vực tư nhân, ông Lực cho biết, mỗi năm có gần 200.000 doanh nghiệp mới thành lập, nhưng theo ước tính của các chuyên gia, nhóm doanh nghiệp này sẽ bỏ ra khoảng 10% vốn thực góp, tính ra kênh này đóng góp gần 10% tổng vốn trong 6 tháng đầu năm. Vì thế, việc phụ thuộc vào vốn tín dụng khiến kênh này đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy.
TS. Trần Du Lịch - chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, việc phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng đang là một vấn đề cần lưu ý. Theo ông Lịch, vốn ngắn hạn nên do ngân hàng thương mại đảm nhiệm, còn nhu cầu vốn trung - dài hạn cần được đáp ứng thêm qua thị trường vốn và các tổ chức tài chính. Nếu các dự án hạ tầng, sản xuất - kinh doanh và cả tín dụng tiêu dùng tiếp tục phụ thuộc vào vốn ngân hàng thì khả năng giảm chi phí vốn sẽ gặp nhiều hạn chế.