Lãi suất huy động neo cao đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng 0,4%/năm trong tháng 6 vừa qua
Mặt bằng lãi suất tăng dần
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục tăng nhẹ trong nửa cuối tháng 7. Với khoản tiền gửi kỳ hạn 6 - 12 tháng, lãi suất phổ biến ở mức 7 - 9%/năm. Thậm chí, một số ngân hàng nhỏ còn trả mức lãi suất tiết kiệm 9,1 - 9,2%/năm cho kỳ hạn trên do chênh lệch tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn rất lớn.
Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), với nhiều giải pháp đồng bộ, tín dụng toàn hệ thống đã tăng dần từ đầu năm. Tính đến ngày 13/7/2026, quy mô dư nợ đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,46 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025. Tốc độ tăng huy động vốn cũng có sự cải thiện, tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch tín dụng - huy động vẫn khá lớn, gây áp lực cho hệ thống ngân hàng trong việc cân đối nguồn vốn phục vụ nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Trước bối cảnh trên, nhiều ngân hàng đang áp dụng lãi suất cho vay trên 10%/năm đối với khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đáng chú ý, với cá nhân vay mua nhà, áp lực trả lãi ngày càng tăng khiến nhiều người vay gặp khó khăn.
Hiện lãi suất vay mua nhà đã chạm mức 15 - 16%/năm. Nhiều khoản vay mua nhà sau giai đoạn được hưởng lãi suất ưu đãi nay chịu lãi suất thả nổi cao khiến người đi vay tính đến giải pháp sẽ trả nợ trước hạn, sau đó vay lại ở một ngân hàng khác. Nhưng thực tế, việc này không dễ thực hiện vì vướng hàng loạt rào cản như phải chịu lãi phạt trả nợ trước hạn và quan trọng phải có nguồn vay để trả nợ.
Theo số liệu vừa được NHNN công bố, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 6/2026 tăng thêm 0,4%/năm so với tháng trước đó, dao động từ 8,1 - 10,5%/năm ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ. Đây là mức tăng mạnh nhất kể từ giữa năm ngoái, phản ánh áp lực huy động vốn vẫn chưa giảm dù cơ quan điều hành liên tục yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để hỗ trợ nền kinh tế. Hiện lãi suất cho vay thực tế tại nhiều ngân hàng đã vượt mốc 10%/năm đối với khách hàng cá nhân, tùy theo mức độ rủi ro, năng lực tài chính và tài sản bảo đảm.
Trong nhóm ngân hàng có lãi suất cho vay bình quân cao, TPBank đang áp dụng mức 10,95%/năm đối với khách hàng cá nhân; OCB với 10,78%/năm; BVBank ở mức 10,45%/năm. SeABank áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn đối với khách hàng cá nhân ở mức 10,18%/năm, trong khi các khoản vay trung và dài hạn là 10,44%/năm. Tại HDBank, lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 8,5%/năm và trung, dài hạn khoảng 10,4%/năm.
Giới phân tích tài chính cho rằng, mặt bằng lãi suất đang phản ánh những áp lực mang tính cấu trúc của hệ thống ngân hàng. Bởi lẽ, lãi suất tiết kiệm vẫn duy trì ở mức cao do tín dụng hiện tăng nhanh hơn khoảng 1,5 lần so với tốc độ huy động vốn khiến nhu cầu cạnh tranh nguồn tiền gửi rất lớn.
Nhận định được ông Nguyễn Dương Phương, Trưởng bộ phận Phân tích và Nghiên cứu Công ty TNHH Chứng khoán Shinhan Việt Nam (SSV) đưa ra, xu hướng tăng của lãi suất huy động đã xuất hiện từ quý IV/2025 và kéo dài đến nay. Lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ ổn định hơn trong thời gian tới nhưng khả năng quay trở lại vùng đáy như giai đoạn trước là không cao, do áp lực huy động vốn của toàn hệ thống vẫn còn tương đối lớn và có sự phân hóa giữa các ngân hàng.
Khó giảm trong nửa cuối năm
Theo giới phân tích, nếu tín dụng tiếp tục được đẩy mạnh nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, trong khi huy động vốn không theo kịp, áp lực thanh khoản của ngân hàng sẽ ngày càng lớn. Khi đó, việc duy trì lãi suất huy động ở mức cao là điều khó tránh khỏi. Chi phí đầu vào tăng sẽ đẩy áp lực lãi suất cho vay đi lên, đè nặng lên người cần vốn.
Vụ trưởng Vụ Tín dụng NHNN Hà Thu Giang nhấn mạnh, nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 145%), trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng. Nhu cầu vốn trung, dài hạn, nhất là đối với các dự án, công trình trọng điểm ngày càng tăng, dẫn tới áp lực cung ứng vốn cũng như rủi ro chênh lệch kỳ hạn, rủi ro thanh khoản của tổ chức tín dụng gia tăng, do nguồn vốn chính để cho vay chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội lên tới 38,5 triệu tỷ đồng trong cả giai đoạn, riêng năm 2026 là khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Bên cạnh đó, các yếu tố bất lợi bên ngoài (gián đoạn nguồn cung, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang...) đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp trong nước, từ đó tác động đến việc mở rộng tín dụng hiệu quả.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính cũng cho rằng, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào vốn tín dụng, với tốc độ tăng trưởng GDP chỉ khoảng 10% và tín dụng 15 -16% như hiện nay, đến năm 2030, tỷ lệ vốn tín dụng/GDP có thể lên đến 180%, trong khi hiện nay ở mức 145% đã là khá rủi ro.
Trong báo cáo thị trường tiền tệ tháng 6, Công ty Chứng khoán MB (MBS) cho biết, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại vào khoảng 8,4%/năm, cao hơn 2,59%/năm so với đầu năm. Mức lãi suất này phản ánh nhu cầu duy trì nguồn vốn ổn định nhằm đáp ứng tốc độ mở rộng tín dụng.
Các chuyên gia MBS cũng nhận định, việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí vốn, từ đó gây sức ép lên NIM. Trong khi đó, yêu cầu tiếp tục giảm hoặc ổn định lãi suất cho vay khiến các ngân hàng khó chuyển toàn bộ phần chi phí đầu vào tăng thêm sang khách hàng, làm biên lãi ròng tiếp tục chịu sức ép.
Trong khi đó, ông Nguyễn Dương Phương kỳ vọng, thanh khoản hệ thống có thể được cải thiện nhờ nhiều yếu tố hỗ trợ trong thời gian tới.
Trước hết, việc NHNN bổ sung 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cơ sở tính tỷ lệ LDR (cho vay trên tổng vốn huy động) sẽ giúp cải thiện dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước chi phối.
Bên cạnh đó, tiến độ giải ngân đầu tư công nhiều khả năng sẽ được đẩy nhanh trong nửa cuối năm khi giá dầu và giá vật liệu xây dựng hạ nhiệt. Trong chu kỳ tăng trưởng mới, chính sách tài khóa nhiều khả năng sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc hỗ trợ nền kinh tế khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ không còn nhiều như các năm trước. Việc nâng ngưỡng doanh thu nhập chịu thuế đối với hộ kinh doanh cũng có thể góp phần đưa dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, một số điều chỉnh như nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% cũng được kỳ vọng sẽ hỗ trợ thêm nguồn vốn cho hệ thống. Đồng thời, xu hướng gia tăng huy động vốn từ thị trường quốc tế của ngân hàng trong bối cảnh mặt bằng lãi suất trong nước đã tăng lên. Các thương vụ bán vốn cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có thể góp phần cải thiện nguồn vốn ngoại tệ của hệ thống. Cuối cùng, kỳ vọng cán cân ngoại tệ sẽ tiếp tục được hỗ trợ khi hoạt động xuất khẩu bước vào mùa cao điểm trong quý III, IV, cùng với dòng vốn FDI duy trì tích cực, bất chấp những biến động của môi trường địa chính trị.