Lãi suất cho vay sẽ giảm đến đâu?

(ĐTCK)  Trong khi một số ngân hàng chủ động giảm lãi suất cho vay ở những chương trình, lĩnh vực và nhóm khách hàng cụ thể, lãi suất huy động lại có xu hướng nhích lên. Giảm lãi suất cho vay đến đâu, bằng cách nào để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống đang là bài toán đặt ra với các ngân hàng.
Từ tháng 8/2026, Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng dành cho SME, cá nhân và hộ kinh doanh

Yêu cầu hạ lãi suất đã rõ

Sau cuộc làm việc ngày 13/8/2026 với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu ngành ngân hàng có các biện pháp cụ thể để ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực phục vụ tăng trưởng và kiểm soát chặt chẽ rủi ro; tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro, quy mô phải đi đôi với chất lượng.

Yêu cầu này nhanh chóng được cụ thể hóa bằng những chương trình tín dụng cụ thể. Từ tháng 8/2026, Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng. Lãi suất của chương trình thấp hơn 1 - 2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của Ngân hàng.

Sau cuộc họp với Thủ tướng, SHB công bố dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh, với mức giảm lãi suất tới 2%/năm. Ngân hàng này đồng thời bổ sung 2.000 tỷ đồng cho vay khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo…, với lãi suất giảm từ 0,5 - 0,7%/năm so với mức hiện hành. Chương trình được triển khai từ ngày 17/8/2026 đến khi giải ngân hết hạn mức.

Nhưng nhìn rộng ra bức tranh lãi suất trên thị trường tiền tệ, không chỉ có một chiều đi xuống như vậy. Báo cáo chiến lược tuần mới nhất của Công ty Chứng khoán VPBankS cho biết, lãi suất tiền gửi bình quân trong tháng 7/2026 tiếp tục tăng ở hầu hết các kỳ hạn. Ở đầu ra, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, được VPBankS dẫn lại, lãi suất bình quân đối với các khoản vay mới và hiện hữu dao động từ 8,3 - 10,5%/năm, so với 8,1 - 10,5%/năm của tháng trước đó.

Điều này cho thấy áp lực giảm lãi suất cho vay đang được đặt ra trong khi mặt bằng huy động chưa giảm theo. Các chương trình tín dụng với lãi suất thấp hơn của Agribank, SHB hay một số ngân hàng khác, vì thế, chỉ tập trung ở một vài nhóm khách hàng, lĩnh vực, hay khoản vay cụ thể, thay vì một sự điều chỉnh giống nhau trên toàn bộ danh mục.

Theo tìm hiểu của phóng viên Đầu tư Chứng khoán, sau cuộc họp ngày 13/8, một số tổ chức tín dụng đang chờ thêm ý kiến từ Ngân hàng Nhà nước về câu chuyện lãi suất. Tuy nhiên, một khả năng được đặt ra là các ngân hàng chủ động tính toán và đưa ra cam kết trên cơ sở đồng thuận chung của toàn ngành, với vai trò kết nối của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. Nếu theo hướng này, “đồng thuận” về định hướng không nhất thiết đồng nghĩa với một mức lãi suất đồng nhất. Câu chuyện giảm lãi suất vì thế không chỉ nằm ở việc đưa ra một con số, mà còn ở cách mỗi ngân hàng thực hiện và lựa chọn nhóm khách hàng, lĩnh vực để ưu tiên.

Ở cấp độ điều hành chính sách tiền tệ, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước “lượng hóa và thường xuyên đánh giá điểm cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng”, đồng thời cập nhật các công cụ lãi suất, tỷ giá, cung tiền, thanh khoản và tín dụng theo từng kịch bản cụ thể.

Vốn phải đi đúng hướng

Việc ngân hàng hạ lãi suất cho vay sẽ giúp giảm chi phí vốn cho người dân, doanh nghiệp, nhưng để thúc đẩy tăng trưởng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở chi phí vốn. Quan trọng không kém là người vay có nhu cầu và có đủ khả năng sử dụng thêm vốn hay không.

Theo ông Nguyễn Đức Huy, CFA, Trưởng nhóm Phân tích VIS Rating, tỷ lệ nợ quá hạn toàn ngành tăng lên 3,8% trong 6 tháng đầu năm 2026, từ mức 3,3% cuối năm 2025. Áp lực xuất hiện ở cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Mặt bằng lãi suất cao cùng đòn bẩy hộ gia đình gia tăng đang gây sức ép lên khả năng trả nợ. Ở khu vực doanh nghiệp, áp lực không chỉ đến từ lãi suất. VIS Rating ghi nhận chi phí tài chính và logistics gia tăng đang gây sức ép lên dòng tiền ở một số lĩnh vực.

Số liệu cập nhật của FiinGroup cũng cho thấy khả năng tiếp cận vốn của khu vực SME có sự phân hóa khá rõ. Tỷ lệ doanh nghiệp được tiếp cận vốn vay trong năm 2026 ở toàn bộ khu vực SME là 20,5%; trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ 8,8%, còn nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa là 30,9%.

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Văn Nam, Giám đốc Khối Thông tin Doanh nghiệp FiinGroup cho biết, khoảng 222.000 doanh nghiệp đã hoạt động trên 5 năm nhưng chưa có nợ vay. Đáng chú ý, trong nhóm này, 47,8% có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương, 59% có tăng trưởng doanh thu dương; khoảng 67.000 doanh nghiệp đồng thời có dòng tiền kinh doanh dương và tăng trưởng doanh thu dương.

Không phải toàn bộ số doanh nghiệp trên đều đang có nhu cầu vay vốn, nhưng việc nhận diện đúng nhóm doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng sử dụng vốn quan trọng không kém việc giảm thêm một mức lãi suất. Doanh nghiệp đang có đơn hàng, mở rộng sản xuất sẽ có nhu cầu vốn khác với doanh nghiệp đang thu hẹp hoạt động, dòng tiền suy yếu. Lãi suất có thể mở rộng khả năng tiếp cận khoản vay, nhưng quyết định vay hay không cuối cùng vẫn gắn với triển vọng kinh doanh và khả năng trả nợ.

Đó cũng là lý do yêu cầu thúc đẩy tín dụng luôn đi kèm yêu cầu về chất lượng. Dòng vốn chỉ thực sự hỗ trợ tăng trưởng khi tìm được người vay có khả năng sử dụng vốn hiệu quả, chứ không đơn thuần khi dư nợ tăng nhanh hơn.

Mỗi ngân hàng một dư địa

Theo ông Nguyễn Đức Huy, rủi ro huy động vốn và thanh khoản tiếp tục hiện hữu trong bối cảnh tín dụng trung, dài hạn tăng mạnh. Tỷ lệ thanh khoản toàn ngành tiếp tục suy giảm, trong khi tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng vẫn ở mức cao. Nhóm ngân hàng nhỏ và vừa phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường và nguồn vốn liên ngân hàng ngắn hạn, trong khi nhóm ngân hàng lớn và quốc doanh có nền tảng huy động vững chắc hơn.

Đặc biệt, nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối đang hưởng lợi từ một số chính sách hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, trong đó có việc nới tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức tính tỷ lệ LDR. Theo VPBankS, Kho bạc Nhà nước hiện gửi khoảng 715.630 tỷ đồng tại 4 ngân hàng thương mại nhà nước, tăng khoảng 222.602 tỷ đồng, tương đương 45% sau 6 tháng. Từ ngày 1/8/2026, việc nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR từ 20% lên 50% cũng được kỳ vọng giúp giảm áp lực thanh khoản.

Thanh khoản hệ thống ngân hàng có thêm những yếu tố hỗ trợ, nhưng mức độ hưởng lợi của các ngân hàng là không đồng đều; trong khi mặt bằng huy động lại chưa giảm. Vì thế, dư địa giảm lãi suất cho vay của từng ngân hàng vẫn phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc nguồn vốn của chính ngân hàng đó.

Với tín dụng trung và dài hạn, vấn đề còn nằm ở kỳ hạn. Ông Nguyễn Đức Huy lưu ý: “Việc nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% có thể làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn, do ngân hàng có thể sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản vay dài hạn”.

Nhìn từ góc độ này, những chương trình giảm lãi suất của Agribank, SHB hay các ngân hàng khác cho thấy cách thức giảm lãi suất đang có sự phân hóa theo từng ngân hàng, nhóm khách hàng và lĩnh vực. Phía sau mức giảm 0,5%, 1% hay 2% là khả năng cân đối nguồn vốn, thanh khoản và rủi ro của từng tổ chức. Đó cũng là lý do một yêu cầu chung về giảm lãi suất khó dẫn tới một mức giảm chung cho toàn hệ thống. Và cũng khó kỳ vọng việc hạ lãi suất cho vay sẽ được áp dụng với mọi lĩnh vực, ngành nghề. Trong kết luận buổi làm việc với ngành ngân hàng, Thủ tướng đã nhấn mạnh yêu cầu tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro, đồng thời bảo đảm vốn đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích với chi phí hợp lý.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục