Thưa ông, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số ngày càng giữ vai trò quan trọng. Việt Nam đã sẵn sàng cho quá trình phát triển kinh tế số như thế nào?
Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” theo Quyết định số 749/QĐ-TTg. Chương trình đặt ra mục tiêu kép: vừa phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh và vươn ra thị trường toàn cầu.
Trọng tâm của chương trình là thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số, chuyển dịch từ mô hình lắp ráp, gia công công nghệ thông tin, sang làm chủ sản phẩm công nghệ số, công nghiệp 4.0; phát triển nội dung số, công nghiệp sáng tạo, kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử và sản xuất thông minh. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế.
Xuất phát từ vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế số trong nền kinh tế quốc dân, Luật Thống kê (sửa đổi) năm 2021 đã đưa chỉ tiêu “tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP” vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Nội dung và kỳ công bố chỉ tiêu này được quy định cụ thể tại Nghị định số 94/2022/NĐ-CP. Từ năm 2023, Cục Thống kê đã chính thức biên soạn và công bố chỉ tiêu này theo đúng quy định và sẽ tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.
| |
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP tại Việt Nam liên tục tăng, bình quân đạt khoảng 13,2%/năm |
Sau 5 năm triển khai Quyết định 749/QĐ-TTg, kết quả đạt được ra sao, thưa ông?
Kết quả biên soạn năm 2025 cho thấy, kinh tế số tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, gắn chặt với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương hơn 72 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020.
Kinh tế số phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu. Trong đó, các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60% tổng giá trị kinh tế số, đồng thời mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, đặc biệt ở các lĩnh vực thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng.
Bình quân giai đoạn 2021-2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 13,2%. Trong đó, ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,13%, còn số hóa các ngành khác đóng góp 5,05%. Tốc độ tăng quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số theo giá hiện hành bình quân giai đoạn này đạt trên 12%/năm; năm 2021 đạt mức thấp nhất là 7,2% và năm 2025 cao nhất, đạt 18,4%.
Những kết quả này phản ánh hiệu quả bước đầu của Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, vai trò dẫn dắt của chính phủ số, cũng như nỗ lực đồng bộ của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong phát triển kinh tế số và xã hội số.
Kinh tế số lõi được coi là “xương sống” của nền kinh tế số. Vậy lĩnh vực này ở Việt Nam đang phát triển ở mức độ nào?
Kinh tế số lõi bao gồm các ngành như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; xuất bản phần mềm; viễn thông; lập trình máy vi tính; dịch vụ tư vấn và các hoạt động liên quan đến công nghệ thông tin; xử lý dữ liệu, cho thuê hạ tầng và các hoạt động cổng thông tin.
Theo thống kê, năm 2025, các ngành kinh tế số lõi đóng góp khoảng 8,42% GDP, tương đương 43,3 tỷ USD, chiếm hơn 60% tổng giá trị kinh tế số. Các ngành số hóa - tức những ngành sử dụng sản phẩm kinh tế số lõi làm chi phí đầu vào cho sản xuất, kinh doanh, chiếm khoảng 5,6% GDP, tương đương 28,8 tỷ USD.
Một số ngành số hóa có giá trị tăng thêm cho kinh tế số cao, gồm thương mại bán buôn, bán lẻ ứng dụng công nghệ số (thương mại điện tử), chiếm khoảng 11,8% tổng giá trị tăng thêm của kinh tế số; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; hoạt động dịch vụ tài chính; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; hoạt động phát thanh, truyền hình.
Đáng chú ý, các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, kinh doanh và quản lý điều hành có xu hướng tăng nhanh, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế số khu vực dịch vụ trong GDP từ 6,5% (năm 2020), lên 7,2% (năm 2025). Điều này cho thấy sự nỗ lực rõ nét của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương trong việc đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin và hoạt động số hóa các ngành kinh tế.
Ở góc độ địa phương, kinh tế số đang thể hiện vai trò như thế nào, thưa ông?
Năm 2025, kinh tế số đã trở thành nhân tố quan trọng, tạo ra sự khác biệt rõ nét về tăng trưởng giữa các địa phương. Trong số 34 tỉnh, thành phố, có 4 địa phương có tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP vượt 20%, gồm Bắc Ninh (46,3%), Thái Nguyên (29,53%), Hải Phòng (22,28%) và Phú Thọ (22,71%).
Hai cực tăng trưởng kinh tế của cả nước là Hà Nội và TP.HCM cũng ghi nhận tỷ trọng kinh tế số lần lượt đạt 17,34% GDP và 13,43% GDP. Các địa phương có tỷ trọng kinh tế số cao thường là trung tâm thu hút mạnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất công nghiệp công nghệ cao, khiến kinh tế số lõi chiếm tỷ trọng lớn trong GRDP.
Sự phân hóa về mức đóng góp của kinh tế số vào GRDP phản ánh khác biệt về trình độ phát triển công nghiệp, hạ tầng số, khả năng thu hút đầu tư và mức độ ứng dụng công nghệ số trong hoạt động kinh tế - xã hội của từng địa phương.
Quyết định 749/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm 20% GDP, trong khi hiện mới đạt khoảng 14%. Điều này có phải là Việt Nam đang “chậm nhịp” so với mục tiêu?
Việc tính toán tỷ trọng kinh tế số trong GDP là vấn đề phức tạp và hiện chưa có sự thống nhất giữa các quốc gia, do đây là lĩnh vực mới. Trên thế giới, một số quốc gia đã nghiên cứu và công bố chỉ tiêu này, nhưng không thường xuyên và kết quả có sự khác biệt đáng kể.
Ví dụ, Canada tính toán kinh tế số chiếm 5,4% GDP năm 2018 và 5,5% năm 2019. Hoa Kỳ ghi nhận kinh tế số chiếm khoảng 10,4% GDP năm 2020, 10,3% năm 2021 và 10,1% năm 2022. Australia công bố kinh tế số chiếm 6,3% GDP năm 2024. Trong khu vực, Thái Lan ước tính kinh tế số chiếm khoảng 6% GDP năm 2023 và dự kiến đạt 11% vào năm 2027. Singapore đạt mức cao hơn, khoảng 18% GDP năm 2023 và 18,6% năm 2024. Ngay cả Trung Quốc, dù là quốc gia đi đầu trong phát triển công nghệ thông tin, truyền thông và trí tuệ nhân tạo, song kinh tế số lõi cũng chỉ chiếm khoảng 9,9% GDP năm 2023 và ước khoảng 10,5% năm 2024.
Trong bối cảnh đó, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của Việt Nam tăng liên tục giai đoạn 2021-2025, từ 12,87% lên 14,02% GDP, bình quân đạt khoảng 13,2%/năm, được đánh giá là mức tăng tích cực.
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Theo ông, mục tiêu này có khả thi?
Giai đoạn 2021-2025, kinh tế số đã nổi lên như một trụ cột quan trọng trong Chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ trực tuyến, logistics thông minh và các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu đều tăng trưởng mạnh mẽ.
Đặc biệt, sự phát triển của chính phủ số với định danh điện tử, cơ sở dữ liệu dân cư và dịch vụ công trực tuyến đã tạo nền tảng quan trọng giúp giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin số. Những yếu tố này góp phần trực tiếp mở rộng quy mô kinh tế số, thể hiện mối quan hệ tương hỗ giữa chuyển đổi số và tăng trưởng kinh tế.
Kinh tế số giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng nhanh và bền vững thông qua việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng, mở rộng không gian thị trường và cải thiện chất lượng dịch vụ, đời sống người dân. Những kết quả đạt được trong năm 2025 cho thấy sự cam kết mạnh mẽ và quyết tâm cao của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong phát triển kinh tế số và xã hội số, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.