Không chỉ cần thêm vốn, mà phải sử dụng vốn hiệu quả hơn

(ĐTCK) TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia chia sẻ góc nhìn về giải pháp phát triển các kênh dẫn vốn, khơi thông nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn 2026 - 2030.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia

Để duy trì mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới, theo ông, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức nào và cơ cấu nguồn vốn cần thay đổi ra sao?

Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, từ nay đến hết năm 2030, yếu tố vốn (gồm vốn tài chính và vốn hiện vật dạng trang thiết bị, công nghệ) đóng góp khoảng 40 - 42% vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 1.500 tỷ USD. Với nhu cầu này, ngân sách nhà nước dự kiến chỉ có thể đáp ứng khoảng 9 triệu tỷ đồng, tương đương 22%, còn khu vực tư nhân (trong và ngoài nước) phải đảm nhận khoảng 78%. Trong lượng vốn mà khu vực tư nhân phải đảm nhận, khu vực FDI hy vọng đóng góp khoảng 12,5%, còn khu vực tư nhân trong nước phải đảm nhận khoảng 65,5% lượng vốn. Theo đó, tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 13 - 14% mỗi năm.

Thực tế 9 tháng đầu năm nay cho thấy, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng khoảng 15%, cao hơn mức tăng 11 - 12% của những năm trước, là rất tích cực. Trong đó, vốn đầu tư Nhà nước chiếm khoảng 30%, tăng 17,3% so với cùng kỳ; vốn đầu tư tư nhân trong nước chiếm khoảng 53%, tăng 14%; vốn FDI chiếm khoảng 17%, tăng 14,5%.

Những con số này cho thấy quy mô vốn cần huy động trong giai đoạn tới là rất lớn, trong khi khả năng đáp ứng của từng khu vực và từng kênh vốn có giới hạn. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động được bao nhiêu vốn, mà còn phải thay đổi cách thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn hiệu quả.

Nhìn vào cấu trúc các kênh dẫn vốn hiện nay, ông đánh giá đâu là điểm cần thay đổi để phát triển thị trường vốn cân bằng, bền vững hơn?

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tín dụng ngân hàng vẫn đóng vai trò rất lớn, chiếm khoảng 48% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Huy động từ thị trường cổ phiếu chiếm khoảng 6%, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 9,4%, đầu tư công khoảng 16%, FDI 12,5% và vốn góp thêm của doanh nghiệp tư nhân khoảng 9%. Như vậy, gần 50% vốn của nền kinh tế vẫn đến từ tín dụng ngân hàng; huy động từ thị trường vốn gồm cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp mới chiếm khoảng 15%. Đây là một cấu trúc chưa thực sự cân bằng.

Thời gian tới, Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường vốn theo hướng đa tầng. Cần tiếp tục phát triển mạnh thị trường trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, nhất là quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư mạo hiểm…; đồng thời, cho phép Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đa dạng hóa hoạt động đầu tư hơn. Đây là nguồn lực rất lớn nhưng hiện vẫn còn những hạn chế về kênh đầu tư.

Cùng với đó, cần sớm nâng cấp Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) thành Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp, để có thể đóng vai trò lớn hơn trong việc huy động và phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Quan trọng hơn, phải tạo dựng được môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi, ổn định, an toàn để các nhà đầu tư có thể yên tâm tham gia thị trường.

Việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cũng phù hợp với những định hướng, chính sách mới. Đó là Quyết định số 1413/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/07/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Đây là một đề án khá toàn diện, tạo cơ sở để tiếp tục cải cách và phát triển thị trường tài chính về cả bề rộng và chiều sâu.

Ở phía ngân hàng, Quyết định số 1809/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 18/09/2026 phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa” cũng đặt ra yêu cầu tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực tư nhân. Trước đó, nhiều đề án phát triển thị trường chứng khoán, bảo hiểm, nâng hạng thị trường…. đã được ban hành.

Như vậy, cả thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng đều đang được đặt trong yêu cầu phải cải thiện khả năng cung ứng và phân bổ vốn cho nền kinh tế theo hướng giảm dần phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng, phát triển đồng đều hơn các kênh dẫn vốn và cả nguồn lực từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng như tài chính tiêu dùng, cho thuê tài chính, quỹ tín dụng, tài chính vi mô, Fintech…

Ngoài việc phát triển các kênh vốn hiện hữu, Việt Nam còn những nguồn lực nào có thể huy động thêm cho tăng trưởng?

Trong 9 tháng đầu năm 2026, huy động vốn từ thị trường chứng khoán mới chiếm khoảng 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội"

Cần nhìn rộng hơn vào những nguồn lực hiện đang chưa được khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả. Có khoảng 6 - 7 nhóm nguồn lực mới cần được khơi thông. Trước hết là đất đai và tài sản công. Hiện nay, khoảng 20 - 25% nguồn thu ngân sách hàng năm của nhiều địa phương có liên quan đến đất đai, trong khi đối với doanh nghiệp, chi phí liên quan đến đất đai có thể chiếm khoảng 30 - 35% tổng chi phí dự án. Nếu giải quyết tốt các vấn đề về đất đai và tài sản công, đây sẽ là nguồn lực rất lớn.

Chúng ta cũng đang còn một lượng lớn dự án bị tồn đọng, đình trệ, khoảng 1.290 dự án, liên quan tới khoảng 70.000 ha đất và khoảng 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư. Nếu tiếp tục tháo gỡ được các điểm nghẽn pháp lý, quy hoạch, định giá đất… để đưa số dự án này trở lại hoạt động, nguồn lực được giải phóng sẽ rất đáng kể.

Một nguồn lực nữa là thuế, phí, trong đó có việc hoàn thuế VAT, ký quỹ cho một số hoạt động kinh doanh. Đây cũng là nguồn lực cần được xử lý nhanh hơn, hợp lý hơn để hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp. Các quỹ tài chính ngoài ngân sách cũng cần được rà soát, đánh giá lại để nâng hiệu quả sử dụng.

Ngoài ra, cần quan tâm đến hiệu quả quay vòng của đồng vốn. Vòng quay tiền trong 9 tháng đầu năm chỉ khoảng 0,5 lần, ước cả năm đạt khoảng 0,7 lần, cải thiện không đáng kể so với mức 0,65 lần trong 3 năm qua, trong khi hiệu quả đầu tư chưa cao (hệ số ICOR còn cao). Điều đó cho thấy không chỉ cần có thêm vốn mà còn phải làm cho đồng vốn quay vòng nhanh hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn, sử dụng hiệu quả hơn.

Tiếp đến, chúng ta cũng cần khai thác những nguồn lực mới như trung tâm tài chính quốc tế, thị trường carbon, tài sản mã hóa (tài sản được chia nhỏ và giao dịch trên nền tảng số, gọi là token hóa), tạo điều kiện thu hút đầu tư nhỏ lẻ. Đây là những lĩnh vực mới nhưng có thể mở ra các kênh huy động vốn mới hoàn toàn khả thi trong tương lai gần.

Một nguồn lực đáng chú ý khác là tiết kiệm của khu vực hộ gia đình. Hiện tiết kiệm hộ gia đình cao hơn tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 2% GDP. Câu hỏi đặt ra là, làm sao để đưa một phần nguồn lực này vào sản xuất, kinh doanh và các kênh đầu tư dài hạn một cách an toàn, hiệu quả, trong đó, việc kiến tạo môi trường đầu tư - kinh doanh minh bạch, an toàn, hiệu quả là then chốt.

Cuối cùng, phải tiếp tục giảm chi phí tuân thủ, chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp, người dân; cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh và đẩy nhanh tiến trình nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Khi mức tín nhiệm được cải thiện, chi phí huy động vốn quốc tế của toàn nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt nói riêng cũng có cơ hội giảm xuống.

Bên cạnh việc huy động thêm nguồn lực, bài toán tiếp theo là làm sao để dòng vốn được phân bổ, sử dụng hiệu quả hơn. Theo ông, đâu là những điểm cần ưu tiên xử lý?

Đây là vấn đề rất quan trọng. Huy động được vốn mới chỉ là một nửa câu chuyện, nửa còn lại là phải phân bổ và sử dụng vốn hiệu quả. Chẳng hạn, dòng vốn tín dụng được phân bổ vào các động lực tăng trưởng, vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh nhiều hơn; đầu tư công cần được tính toán và cơ cấu lại cho hợp lý hơn (hiện 80% đầu tư công dành cho cơ sở hạ tầng, khá ít dành cho các lĩnh vực cơ bản khác như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ…). Nếu cơ cấu đầu tư công chưa thực sự hiệu quả thì đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến hệ số ICOR còn cao. Vì vậy, cùng với việc tăng quy mô đầu tư, phải tăng chất lượng và hiệu quả của đầu tư.

Việc phân bổ vốn hiệu quả cũng là một cách để kiểm soát rủi ro, vì khi đó, dự án, công trình, sản phẩm đầu tư đạt hiệu quả cao hơn, giảm lãng phí, tăng năng suất, chất lượng, giảm rủi ro lạm phát, giảm hiện tượng bị chèn lấn vốn (xảy ra khi dòng vốn đổ nhiều vào các dự án, chương trình lớn, doanh nghiệp lớn, sẽ làm giảm lượng vốn chảy vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh…). Nhu cầu vốn lớn, nhiều kênh đầu tư hấp dẫn, cùng với áp lực lạm phát, lãi suất cao toàn cầu và trong nước thời gian qua khiến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam tăng lên và neo cao, tăng áp lực tài chính và là rào cản tăng trưởng cao, cần theo dõi và kiểm soát.

Cùng với đó, chúng ta cũng cần kiểm soát tốt rủi ro liên thông giữa ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các quỹ đầu tư. Các thị trường này ngày càng có sự liên kết, liên thông chặt chẽ với nhau, rủi ro ở một khu vực có thể lan truyền sang các khu vực khác. Do đó, phải giữ được sự ổn định, phát triển lành mạnh của thị trường tài chính và thị trường bất động sản, bởi đây là hai thị trường có mức độ liên thông rất cao, nhạy cảm, lan truyền nhanh. Khi các thị trường này vận hành ổn định, dòng vốn mới có thể được huy động và phân bổ một cách hiệu quả, qua đó, hỗ trợ tốt hơn cho mục tiêu tăng trưởng cao và ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tới.

Nhuệ Mẫn thực hiện.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục