Yêu cầu cấp thiết
Chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu cấp thiết cho phát triển bền vững. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, ban hành theo Quyết định 896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu giảm 43,5% phát thải so với kịch bản thông thường vào năm 2030, phát thải đạt đỉnh vào năm 2035 và phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Quá trình này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn. Theo Bộ Tài chính, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đến năm 2040 để thực hiện các cam kết khí hậu, ngân sách nhà nước không thể đơn độc gánh vác quy mô này.
Tại Hội nghị lần thứ 30 của các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP30) diễn ra tại Belém vào tháng 11/2025, Việt Nam kêu gọi các nước phát triển huy động ít nhất 300 tỷ USD mỗi năm và hướng tới 1.300 tỷ USD mỗi năm. Quyết định chung của COP30 kêu gọi tăng gấp ba tài chính thích ứng vào năm 2035. Tuy nhiên, nguồn vốn công quốc tế đang co lại: Hoa Kỳ đã rút khỏi thỏa thuận Quan hệ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) từ tháng 3/2025; các nước châu Âu, Nhật Bản đang chịu sức ép nợ công lớn và đang phải huy động trái phiếu lãi suất cao trên thị trường. Như vậy, Việt Nam phải tự xây năng lực huy động vốn tư nhân, không thể trông đợi quá nhiều từ nguồn viện trợ.
Nhu cầu vốn cho thích ứng với biến đổi khí hậu cũng rất lớn. Theo Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu (cập nhật năm 2025), giai đoạn 2021 - 2030, Việt Nam cần 55 - 92 tỷ USD cho mục tiêu này. Trong đó, mỗi năm, Việt Nam phải huy động từ 2,75 - 6,42 tỷ USD ngoài ngân sách. Thực tế, chỉ riêng cơn bão Yagi (đổ bộ vào miền Bắc tháng 9/2024) đã gây thiệt hại khoảng 80.000 tỷ đồng, tương đương 3,3 tỷ USD.
| |
Cuối cùng, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh (Quyết định 768/QĐ-TTg, 4/2025) ước tính cần 136,3 tỷ USD cho nguồn và lưới truyền tải riêng trong giai đoạn 2026 - 2030.
Dòng vốn xanh của Việt Nam hiện chủ yếu vẫn trông vào tín dụng ngân hàng. Đến cuối quý I/2026, dư nợ tín dụng xanh đã đạt 828.000 tỷ đồng, với 82 tổ chức tín dụng tham gia, ghi nhận mức tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm tính từ năm 2017. Trong đó, lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm khoảng 32% dư nợ tín dụng phân khúc này; năng lượng tái tạo chiếm khoảng 30%. Tuy vậy, tỷ trọng tín dụng xanh trên tổng dư nợ toàn nền kinh tế gần như đứng yên quanh mốc 4 - 4,5% suốt nhiều năm qua.
Các kênh vốn xanh khác vẫn ở quy mô “khiêm tốn”. Năm 2025, Việt Nam phát hành khoảng 726 triệu USD trái phiếu xanh và bền vững qua 9 đợt. Con số này tăng 28% so với năm 2024, nhưng chỉ bằng khoảng 3% lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong năm. Việt Nam chưa có trái phiếu xanh chính phủ, dù Bộ Tài chính đã xây dựng đề án thí điểm từ năm 2024. Trong khi đó, thị trường toàn cầu đã phát hành 529,7 tỷ USD trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững chỉ trong nửa đầu năm 2026.
Các dự án xanh thường có vòng đời từ 20 - 30 năm, trong khi nguồn vốn tín dụng ngân hàng chủ yếu hình thành từ kỳ hạn ngắn. Sự chênh lệch kỳ hạn hạn chế khả năng mở rộng nguồn vốn tín dụng vào lĩnh vực xanh. Thực tiễn này cũng đòi hỏi phải phát triển thị trường tài chính xanh theo hướng cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng với các kênh vốn khác như trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư…
| |
Nhu cầu vốn cho chuyển đổi năng lượng công bằng của Việt Nam rất lớn |
Thị trường tài chính xanh Việt Nam vẫn tụt hậu so với khu vực
Việt Nam chính thức tham gia JETP từ cuối năm 2022. Tính đến nay, 48 dự án được công bố phù hợp với các nguyên tắc của JETP, với tổng nhu cầu vốn trên 11 tỷ USD. Tuy nhiên, tính đến cuối tháng 9/2026, mới có 3 dự án huy động được 722 triệu USD, tương đương chưa đến 6,6% nhu cầu vốn của danh mục. Các khoản đầu tiên được ký từ tháng 5/2025, gồm 67 triệu EUR cho lưới 500 kV và 480 triệu EUR cho thủy điện tích năng Bác Ái.
Nhìn ra khu vực, Indonesia đã phát hành sukuk xanh chính phủ (một loại chứng khoán Hồi giáo phục vụ các dự án xanh) ra thị trường quốc tế từ năm 2018. Đến nay, họ đã huy động được khoảng 9,6 tỷ USD qua công cụ này, nhiều đợt phát hành có lượng đăng ký mua vượt xa khối lượng chào bán và có cả kênh bán lẻ cho người dân.
Trong khi đó, Thái Lan có khoảng 30 tỷ USD trái phiếu ESG đang lưu hành, chiếm 5,9% thị trường nợ. Chính phủ Thái Lan là nhà phát hành lớn thứ ba trong nhóm thị trường mới nổi, với khoảng 24 tỷ USD cộng dồn.
Malaysia có bảo lãnh nhà nước 70% cho khoản vay xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng chương trình trợ cấp chi phí đánh giá độc lập. Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan đều đã thiết kế bộ phân loại quốc gia về dự án xanh tương thích với bộ phân loại của ASEAN.
Sự tụt hậu của thị trường tài chính xanh Việt Nam so với các nước xuất phát từ một số nút thắt chính.
Thứ nhất, thiếu lãi suất tham chiếu. Hiện Việt Nam chưa có trái phiếu xanh chính phủ nên thị trường không có đường cong lợi suất chuẩn để định giá trái phiếu doanh nghiệp xanh. Nhà đầu tư tổ chức cũng thiếu một tài sản xanh rủi ro thấp để đưa vào danh mục. Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi còn cấm doanh nghiệp bảo hiểm mua trái phiếu phát hành để cơ cấu nợ, vì vậy, các dự án năng lượng tái tạo đã vận hành, có rủi ro thấp không thể tái tài trợ qua kênh này.
Thứ hai, chi phí giao dịch và khả năng vay vốn. Chi phí thuê tổ chức độc lập xác nhận và dán nhãn theo chuẩn quốc tế là gánh nặng với các đợt phát hành nhỏ. Nhiều dự án xanh có ý tưởng tốt nhưng không đủ điều kiện tài chính để vay vốn (unbankable). Doanh nghiệp nhỏ và vừa kỳ vọng hoàn vốn trong 12 - 18 tháng, trong khi các dự án điện mặt trời mái nhà hay nâng cao hiệu quả năng lượng cần nhiều năm để hoàn vốn.
Thứ ba, độ trễ và thiếu đồng bộ thể chế. Cơ chế giá mua điện ưu đãi (FiT) cho điện gió, điện mặt trời kết thúc mà chưa có cơ chế thay thế kịp thời. Điều này để lại hàng loạt dự án chuyển tiếp và làm tăng rủi ro chính sách trong mắt nhà đầu tư. Danh mục xanh đã có nhưng chưa gắn với ưu đãi “cứng” nào. Nghiên cứu của Climate Bonds Initiative trên 13 quốc gia cho thấy, ưu đãi tài chính là yếu tố quyết định một bộ phân loại có được thị trường sử dụng hay không.
Hoàn thiện nền tảng thể chế cho tài chính xanh
Những động thái chính sách gần đây của Chính phủ đang cho thấy nỗ lực hoàn thiện nền tảng thế chế cho thị trường tài chính xanh. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định 29/2026/NĐ-CP về việc lập sàn giao dịch carbon trong nước và sàn giao dịch này vận hành thí điểm từ ngày 29/6/2026. Hạn ngạch phát thải khí nhà kính đã được phân bổ thí điểm cho 110 cơ sở trong lĩnh vực công nghiệp trọng điểm (nhiệt điện, thép và xi măng). Các cơ chế này sẽ tạo nguồn thu mới cho dự án giảm phát thải.
Trước đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 21/2025/QĐ-TTg phân loại dự án xanh, gồm 45 loại hình dự án thuộc 7 lĩnh vực, có hiệu lực từ 22/8/2025. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có quy định về việc phân loại dự án xanh. Quyết định có ba điểm nhấn nổi bật: Một là, cơ chế xác nhận rõ ràng, qua cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc tổ chức độc lập đạt chuẩn ISO/IEC 17029 hay ISAE 3000; hai là, yêu cầu chủ dự án tự đánh giá tác hại đến các mục tiêu môi trường và kê khai lịch sử vi phạm; ba là, danh mục dự án được công khai và liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư.
Tuy vậy, tiêu chí phân loại chủ yếu dựa vào việc tuân thủ pháp luật và có chứng nhận (VietGAP, Nhãn sinh thái, LOTUS...). Vì vậy, Quyết định 21 giảm được rủi ro “tẩy xanh” ở thị trường trong nước nhưng chưa đủ để nhà đầu tư quốc tế công nhận mà không cần đánh giá thêm.
Về hành lang cho tín dụng và trái phiếu xanh, Luật Bảo vệ môi trường 2020 (Điều 149, 150) và Nghị định 08/2022/NĐ-CP đã định danh tín dụng xanh và trái phiếu xanh. Thông tư 17/2022/TT-NHNN bắt buộc ngân hàng quản lý rủi ro môi trường trong cấp tín dụng. Hiện khoảng 30% dư nợ đã được đánh giá rủi ro môi trường - xã hội. Phía Bộ Tài chính đã giảm 50% phí dịch vụ chứng khoán cho trái phiếu xanh. Chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho dự án xanh, dựa trên danh mục của Quyết định 21/2025/QĐ-TTg đang được hoàn thiện để trình Chính phủ.
Sàn giao dịch tín chỉ carbon đã đi vào vận hành thí điểm theo Nghị định 29/2026/NĐ-CP, trên hạ tầng sở giao dịch chứng khoán hiện có. Hạn ngạch thí điểm là khoảng 243 triệu tấn CO2 cho năm 2025 và 268 triệu tấn cho năm 2026. Khi giá carbon đủ rõ, tín chỉ sẽ trở thành một dòng doanh thu bổ sung, giúp các dự án giảm phát thải dễ vay vốn hơn.
Để dòng vốn xanh được khơi thông
Để khơi thông dòng vốn vào lĩnh vực xanh, trọng tâm chính sách của giai đoạn tới không phải là ban hành thêm văn bản liên quan, mà nên là nối các mảnh ghép đã có thành một chuỗi liền mạch: từ danh mục xanh, đến chính sách ưu đãi, công cụ dài hạn, chia sẻ rủi ro và dữ liệu.
Thứ nhất, nên phát hành lô trái phiếu xanh chính phủ đầu tiên, bắt đầu bằng một lô nội tệ có quy mô đủ lớn để tạo đường cong lợi suất tham chiếu. Nguồn thu dành cho các dự án đầu tư công đủ điều kiện theo Quyết định 21/2025/QĐ-TTg như lưới truyền tải, đường sắt đô thị, công trình chống ngập. Khung trái phiếu nên được đánh giá độc lập theo nguyên tắc ICMA (Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế) để có thể mở rộng ra thị trường quốc tế. Đồng thời, cần sửa quy định để doanh nghiệp bảo hiểm được mua trái phiếu xanh tái tài trợ dự án đã vận hành.
Thứ hai, gắn ưu đãi “cứng” với danh mục tại Quyết định 21/2025/QĐ-TTg. Cần ban hành sớm Nghị định về việc hỗ trợ lãi suất 2%/năm với các dự án thuộc danh mục này. Ngân hàng Nhà nước có thể lập khoản tái cấp vốn ưu đãi, hoặc nới hạn mức tăng trưởng tín dụng cho ngân hàng có tỷ trọng tín dụng xanh được xác nhận cao. Ngân sách có thể hỗ trợ một phần chi phí xác nhận độc lập cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bằng chứng quốc tế cho thấy danh mục chỉ được dùng khi đi kèm ưu đãi.
Thứ ba, danh mục xanh của Việt Nam cần tương thích với danh mục dự án theo Bộ phân loại ASEAN phiên bản 4. Tiếp theo, bổ sung ngưỡng phát thải cho nguồn điện, công trình xây dựng và phương tiện giao thông. Cũng cần thêm tầng “chuyển đổi” có thời hạn cho xi măng, thép, điện khí và lộ trình loại bỏ điện than, cùng quy tắc bảo lưu nhãn cho trái phiếu khi tiêu chí thay đổi. Yêu cầu “không gây hại đáng kể” và tiêu chí xã hội nên áp dụng theo lộ trình, đơn giản hơn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ tư, xây dựng cơ chế tài chính hỗn hợp. Với các dự án chuyển đổi xanh, vốn tư nhân e ngại vì thời gian thu hồi vốn dài, công nghệ mới và rủi ro chính sách. Tài chính hỗn hợp dùng một phần nhỏ vốn ưu đãi công hoặc quốc tế làm “vốn mồi” để chia sẻ rủi ro, nhờ đó kéo về lượng vốn thương mại lớn gấp nhiều lần. Cơ chế này có thể vận hành theo ba trụ cột.
Trụ cột một là, bảo lãnh và phân lớp rủi ro. Các tổ chức như Ngân hàng Thế giới, ADB hoặc quỹ khí hậu cung cấp bảo lãnh, hoặc chấp nhận chịu tổn thất trước. Phần vốn của ngân hàng thương mại và nhà đầu tư tư nhân nhờ đó được bảo vệ.
Trụ cột hai là, vốn vay ưu đãi. Đây là vốn có lãi suất thấp hơn thị trường, thời gian ân hạn và trả nợ dài. Khi trộn với vốn thương mại, nó kéo chi phí vốn bình quân của dự án xuống mức khả thi.
Trụ cột ba là hỗ trợ kỹ thuật. Viện trợ không hoàn lại dùng để chi cho nghiên cứu khả thi, hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) và xây dựng năng lực. Nhờ phần này, dự án mới đạt chuẩn để vay vốn quốc tế.
Thứ năm, đưa hợp đồng mua bán điện về chuẩn có thể vay vốn. Cần ban hành mẫu hợp đồng mua bán điện (PPA) phân bổ rủi ro cân bằng hơn về cắt giảm công suất, thay đổi pháp luật và trọng tài. Đồng thời, mở rộng cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) để doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp xuất khẩu tự mua điện sạch.
Thứ sáu, xây hạ tầng dữ liệu và công cụ cho thích ứng. Cần một cơ sở dữ liệu quốc gia về đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV), nối danh mục dự án xanh, dữ liệu phát thải của thị trường carbon và báo cáo tín dụng xanh. Cơ sở dữ liệu này giúp giảm bất cân xứng thông tin cho nhà đầu tư. Với thích ứng, nên áp dụng đánh dấu ngân sách khí hậu như Indonesia đã làm từ năm 2016 và thí điểm trái phiếu chính quyền địa phương cho các công trình cấp nước, chống ngập có nguồn thu từ phí.
Nếu năm 2025 là năm Việt Nam “định nghĩa” về khái niệm dự án xanh, thì giai đoạn 2026 - 2027 cần là lúc “định giá” dự án xanh. Định giá bằng ưu đãi cụ thể, bằng một mức lãi suất tham chiếu và bằng một cơ chế chia sẻ rủi ro đủ tin cậy để vốn tư nhân bước vào lĩnh vực này.