Việc nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn sẽ giảm bớt áp lực huy động vốn dài hạn cho các ngân hàng
Kiểm soát lãi suất, giảm áp lực thanh khoản
Trước xu hướng mặt bằng lãi suất tăng nhanh trong những tháng đầu năm, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của người dân và doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ, góp phần giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ sản xuất - kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, qua thanh tra, giám sát và báo cáo từ các tổ chức tín dụng, NHNN Khu vực 1 cho biết vẫn tồn tại một số vấn đề liên quan đến hoạt động huy động vốn và lãi suất tiền gửi. Cơ quan này đã yêu cầu các tổ chức tín dụng không để xảy ra các cơ chế làm phát sinh mặt bằng lãi suất thực tế cao hơn mức công bố.
Tuy nhiên, xu hướng tăng lãi suất vẫn xuất hiện ở một số ngân hàng trong bối cảnh tín dụng tăng gần gấp đôi tốc độ huy động vốn. Đó cũng là lý do mặt bằng lãi suất huy động khó có thể kỳ vọng giảm sâu, mà duy trì ở mức 7 - 8%/năm cho kỳ hạn dài. Vì thế, nhà điều hành tiếp tục chấn chấn chỉnh mặt bằng lãi suất để khơi thông vốn.
Bên cạnh đó, NHNN cũng vừa quyết định “nới room” tín dụng bất động sản cho 25 ngân hàng thương mại khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất vào hạn mức kiểm soát tín dụng bất động sản trong năm nay.
Đặc biệt, tại dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN, NHNN đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% - tương đương ngưỡng áp dụng trong giai đoạn 2020 - 2021. Đây là một trong những tỷ lệ quan trọng phản ánh mức độ chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và tài sản sinh lời của ngân hàng. Trần tỷ lệ càng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay có thời hạn dài, qua đó, mở rộng dư địa tín dụng trung và dài hạn.
Có ý kiến cho rằng, việc nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn trở lại mức 40% được xem là “bước lùi” về quản trị rủi ro hệ thống, nhất là trong bối cảnh ngành ngân hàng đang mất cân đối kỳ hạn kéo dài (huy động chủ yếu vốn ngắn hạn, trong khi cho vay chủ yếu trung, dài hạn). Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng, đây là “bước lùi” cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, giảm bớt áp lực huy động vốn trung, dài hạn của các tổ chức tín dụng trong thời gian tới.
Cùng với thay đổi về trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, NHNN cũng đề xuất điều chỉnh một số quy định liên quan đến tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Cụ thể, tại dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN, tổng tiền gửi dùng để tính LDR tiếp tục loại trừ tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, đồng thời cho phép chỉ loại trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước hoặc một tỷ lệ khác do NHNN quyết định trong từng thời kỳ. Điều này đồng nghĩa với việc 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR của các ngân hàng, từ đó giảm bớt sức ép thanh khoản cho các nhà băng. Theo bản thuyết minh của cơ quan soạn thảo, việc sửa đổi được thực hiện nhằm triển khai các chỉ đạo mới của Chính phủ, NHNN về hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới.
Kích hoạt dòng chảy tín dụng
Các nhà phân tích cho rằng, đối tượng được thụ hưởng từ mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn trước hết sẽ là nhóm bất động sản. Bởi nhóm này có tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn cao, do vòng đời triển khai dự án dài, tính bằng vài năm. Tuy nhiên, trong bối cảnh tín dụng bất động sản có tốc độ tăng trưởng nhanh từ năm 2025 đến nay, buộc các ngân hàng phải kiểm soát chất lượng cho vay thì nhóm thực sự được hưởng lợi chính là hạ tầng, năng lượng, đầu tư công. Các doanh nghiệp thầu dự án lớn cần cam kết vốn dài hạn từ ngân hàng để mua sắm máy móc, triển khai xây dựng có thể được tiếp ứng vốn ngân hàng rộng rãi hơn. Đây cũng là trọng tâm ưu tiên để thúc đẩy hoàn thiện cơ sở hạ tầng - nền tảng chiến lược quốc gia cho chu kỳ tăng trưởng mới.
Mặc dù vậy, việc nới giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn có thể dẫn đến những lo ngại nhất định về rủi ro thanh khoản. Nhiều năm qua, NHNN liên tục điều chỉnh giảm tỷ lệ này nhằm hạn chế tình trạng “lệch pha” giữa cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tín dụng của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh tiền gửi trên thị trường chủ yếu vẫn là ngắn hạn, còn nhu cầu vốn của nền kinh tế lại tập trung ở trung và dài hạn.
Thời điểm hiện tại, với định hướng điều hành tiền tệ linh hoạt và thận trọng trước các áp lực tỷ giá, lạm phát nửa cuối năm, giới phân tích cho rằng, thay vì nhận định đây là tín hiệu cho thấy NHNN sẽ nới lỏng tiền tệ hơn trong nửa cuối năm để hỗ trợ nền kinh tế đạt các mục tiêu tăng trưởng hai con số thì nên nhìn nhận việc nâng trần sử dụng vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn trở lại mức 40% là động thái hỗ trợ cho nhu cầu thanh khoản và kích thích tăng trưởng tín dụng thích ứng với bối cảnh mới. Nhà điều hành đã đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản trị rủi ro thanh khoản của các tổ chức tín dụng trong thời gian tới, cùng với đó, nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của cơ quan quản lý, áp dụng bộ công cụ giám sát linh hoạt hơn.
Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, với chức năng là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Tuy vậy, Thống đốc thẳng thắn nhìn nhận, bối cảnh hiện nay còn không ít khó khăn, thách thức với mục tiêu tăng trưởng tín dụng này.
Trước đó, NHNN cho biết, tính đến ngày 28/4/2026, tín dụng toàn hệ thống đã tăng 4,42% so với cuối năm 2025 trong khi huy động vốn tăng rất chậm, khiến huy động vốn (VNĐ) đang chênh 2 triệu tỷ đồng so với tín dụng. Còn thống kê SSI Research cho thấy, tính đến giữa tháng 5/2026, tổng tiền gửi toàn hệ thống vượt mức 17 triệu tỷ đồng, tăng 2,98% so với đầu năm.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính chỉ ra áp lực lớn về thanh khoản do sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng - huy động vốn. Một trong những rủi ro nội tại lớn nhất là tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức rất cao, dự kiến đạt khoảng hơn 140% vào cuối năm 2025 và đây cũng là mức cao nhất trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Nếu năm 2026, tín dụng tiếp tục tăng trưởng nhanh, tỷ lệ này có thể vượt ngưỡng 147% và có nguy cơ chạm mức 180 - 190% vào năm 2030. Áp lực về hệ số an toàn vốn (CAR) cũng là rào cản cho việc mở rộng tín dụng. Theo quy định, để tăng thêm 1 đồng dư nợ, ngân hàng cần bổ sung thêm khoảng 0,1 đồng vốn chủ sở hữu. Hiện 4 ngân hàng thương mại Nhà nước đang gặp khó khăn trong việc tăng vốn do dư địa không còn nhiều và phụ thuộc lớn vào việc giữ lại lợi nhuận. Khi các ngân hàng lớn không thể mở rộng vốn mạnh, sức hấp thụ và cung ứng vốn của toàn hệ thống tất yếu sẽ bị chậm lại.
Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”
Dự kiến ngày 15/7 tới, tại Hà Nội, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tổ chức Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”. Hội thảo có sự tham gia của lãnh đạo Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, doanh nghiệp niêm yết, các tổ chức đầu tư trong, ngoài nước và đông đảo nhà đầu tư có nhiều năm gắn bó với thị trường vốn.
Đây là sự kiện nằm trong chuỗi hội thảo chuyên đề về thị trường vốn được Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức thường niên từ năm 2020 đến nay, nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và các thành viên thị trường về những vấn đề trọng tâm của nền kinh tế và thị trường vốn.
Sự kiện là diễn đàn để các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và thành viên thị trường cùng trao đổi sự xoay trục của các dòng vốn, các giải pháp phát triển thị trường vốn Việt Nam, từ đó phần nào định hình, tìm kiếm cơ hội đầu tư trong bối cảnh mới.
Thông qua những tham luận, chia sẻ kinh nghiệm từ các tổ chức tài chính và doanh nghiệp; thảo luận, đối thoại chính sách, Hội thảo kỳ vọng sẽ đóng góp thêm các kiến nghị, giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ các nguồn lực cho nền kinh tế. Đồng thời, sự kiện cũng là dịp nhìn lại chặng đường 30 năm phát triển của ngành chứng khoán Việt Nam, qua đó góp phần định hình các động lực tăng trưởng mới cho thị trường vốn trong giai đoạn tới.