Khát vọng vươn mình: Một số đề xuất tăng trưởng từ phía cung

(ĐTCK) Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam chuyển dịch sang mô hình phát triển dựa vào phía cung, trong đó khu vực tư nhân, năng suất và các ngành mũi nhọn giữ vai trò quyết định, còn hệ thống ngân hàng là kênh dẫn vốn và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
TS. Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng Ngân hàng MB, Tiến sĩ Đại học Paris Dauphine

Không thể chỉ dựa vào “cỗ máy” đầu tư công

Đảng và Nhà nước đã đề ra mục tiêu trong 20 năm tới, nước ta phải tăng trưởng cao, phấn đấu ở mức 10% trở lên để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Đây là mục tiêu tham vọng nhưng đúng đắn và cần thiết để đưa đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, phân tích hồi quy động lực tăng trưởng từ đầu công theo nguồn số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thì thấy, nếu giải ngân vốn đầu tư công tăng thêm 1% thì vốn đầu tư toàn xã hội tăng 0,2% và vốn đầu tư toàn xã hội tăng 1% thì giúp GDP tăng thêm khoảng 0,44%. Do đó, giải ngân vốn đầu tư công tăng thêm 1% sẽ giúp GDP tăng thêm khoảng 0,2% x 0,44 = 0,088%.

Để GDP tăng trưởng 10% trong giai đoạn 2026 - 2030, tức là tăng thêm 3,5% so với mức trung bình của giai đoạn 2011 - 2025 thì vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng thêm 8%, tương đương mức tăng trưởng bình quân là 19%/năm.

Với tốc độ này thì chỉ một động cơ đầu tư công là không đủ, vì đầu tư tư nhân chiếm tới 54% tổng vốn đầu tư toàn xã hội đang tăng chậm lại với tốc độ tăng trưởng 11,1% trong 15 năm qua và 8,4% trong năm 2025.

Cần lan tỏa sang khối tư nhân

Từ góc độ trên, việc lan tỏa sang khu vực tư nhân trở thành điều kiện tiên quyết nếu muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số. Khi khu vực này chưa thực sự được khơi thông, bài toán tăng trưởng sẽ tiếp tục đối mặt với những rào cản lớn từ phía cung ứng vốn.

Do đó, Chính phủ cần thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo một môi trường vĩ mô ổn định, duy trì mức lãi suất hợp lý và tỷ giá ổn định.

Đồng thời, xây dựng niềm tin đầu tư của khối tư nhân bằng cách đảm bảo một môi trường pháp lý bảo vệ chắc chắn quyền sở hữu, tự do kinh doanh và bảo vệ doanh nghiệp, tạo các cơ hội đầu tư mới, khuyến khích tham gia vào các dự án mới, dự án sản xuất, kiến tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Vai trò then chốt của ngành ngân hàng

Trong bức tranh đó, hệ thống ngân hàng nổi lên như một mắt xích trung tâm của nền kinh tế, bởi đây là kênh dẫn vốn chủ lực cho khu vực tư nhân. Tuy nhiên, vai trò của ngân hàng trong giai đoạn tới không chỉ dừng lại ở việc mở rộng tín dụng, mà cần chuyển sang nâng cao chất lượng phân bổ vốn.

Điều này có nghĩa là dòng tín dụng cần được định hướng vào các lĩnh vực có năng suất cao và giá trị gia tăng lớn, chẳng hạn như công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ cao hay năng lượng tái tạo, thay vì dàn trải như trước đây. (Hình 1)

Hình1: Năng suất lao động theo ngành nghề (triệu VNĐ). Nguồn: Cục Thống kê.

Đồng thời, ngân hàng cũng cần tham gia sâu hơn vào quá trình hình thành các ngành mũi nhọn thông qua việc tài trợ dài hạn cho các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Mặc dù đây là những lĩnh vực có thời gian thu hồi vốn dài và rủi ro cao hơn, song lại đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bên cạnh đó, thông qua các chính sách tín dụng, hệ thống ngân hàng còn có thể thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tiến quản trị và nâng cao năng suất, qua đó góp phần chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Nói cách khác, ngân hàng không chỉ là nơi cung ứng vốn mà còn là “bộ lọc” định hướng chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Cần thêm các giải pháp trọng cung

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không có bất kỳ một nền kinh tế nào có thể tăng trưởng 10% trong thời gian dài mà chỉ sử dụng chính sách tổng cầu. Những quốc gia này đều xây dựng và triển khai thành công các chính sách tác động từ phía tổng cung để đạt được tăng trưởng cao trong dài hạn và họ đều phải vươn lên vị trí tốp đầu thế giới trong một vài lĩnh vực nào đó.

Với Hàn Quốc là mô hình chaebol với các công ty hàng đầu trong ngành công nghiệp nặng, hóa chất, điện tử, bán dẫn, ô tô với sự hỗ trợ kiến tạo chính sách của Chính phủ. Với Đài Loan (Trung Quốc) là đi đầu trong ngành sản xuất chip, bán dẫn công nghệ cao tiến tới thượng nguồn của chuỗi giá trị.

Trung Quốc là công xưởng của thế giới với các công ty hàng đầu trong ngành lắp ráp, chế biến chế tạo. Ngoài ra, sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Trung Quốc còn được hỗ trợ của đầu tư cơ sở hạ tầng và hoạt động nghiên cứu phát triển mạnh mẽ. Với Singapore là lĩnh vực tài chính, hàng không và cảng biển với một nền hành chính hiệu quả và hiệu lực.

Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn, Chính phủ cần xây dựng các giải pháp từ phía cung và chuẩn bị các giải pháp kiểm soát rủi ro trong bối cảnh quốc tế nhiều bất ổn. Theo tính toán của tác giả thì có thể xem xét một số giải pháp sau đây:

Nâng cao hiệu quả đầu tư

Trong ngắn hạn cần thực hiện ngay các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư. Hiệu quả đầu tư được đo lường bằng chỉ số ICOR - chỉ tiêu phản ánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư để tạo ra 1 đồng GDP.

Theo số liệu của Cục Thống kê về ICOR thì thành phần kinh tế nhà nước đạt hiệu quả kém nhất với ICOR là 8, trong khi khu vực kinh tế tư nhân hiệu quả hơn với ICOR là 6 và FDI là 4 (Hình 2).

Hình 2: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ICOR. Nguồn: Cục Thống kê.

Do đó, cần tập trung nâng cao hiệu quả đầu tư của khối kinh tế nhà nước ngang và hơn khối tư nhân. Những việc đơn giản có thể làm ngay là rút ngắn thời gian phê duyệt và triển khai các dự án, quản lý chặt chẽ đơn giá đầu tư sẽ nhanh chóng giúp nâng cao hiệu quả đầu tư các công trình, dự án...

Tăng năng suất là mệnh lệnh

Không một doanh nghiệp hay nền kinh tế nào có thể tăng trưởng cao trong dài hạn mà không thực hiện tốt các giải pháp tăng năng suất.

Theo lý thuyết, tăng trưởng kinh tế bao gồm ba thành phần: (i) phần do vốn tạo ra, (ii) phần do lao động tạo ra; (iii) và phần do nhân tố năng suất tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) tạo ra.

Như vậy, các chính sách từ phía cung có thể tạo ra tăng trưởng bằng cách bổ sung lực lượng lao động tay nghề cao, tăng năng suất lao động, sử dụng tối ưu nguồn lực, cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ, tối ưu quản lý để các nhân tố đầu vào được sử dụng tốt nhất (TFP). Các báo cáo của OECD cho thấy, TFP là yếu tố quyết định sự khác biệt giữa các nền kinh tế tăng trưởng nhanh và các nền kinh tế mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình

Số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, từ năm 2010 đến nay, tốc độ tăng lao động là thấp nhất. Tiếp đó là tốc độ tăng TFP, cao hơn tốc độ tăng lao động nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng GDP. Trong khi đó, tốc độ tăng vốn ở các năm luôn xếp cao nhất trong 3 thành phần và đạt mức cao khoảng 7% (Hình 3).

Hình 3: Tốc độ tăng các nhân số sản xuất. Nguồn: Cục Thống kê.

Số liệu thống kê cũng cho thấy đóng góp của lao động (L) vào tăng trưởng GDP là khá thấp, đóng góp của vốn (K) vào tăng trưởng GDP là lớn nhất.

Cụ thể, giai đoạn 2011 - 2015, đóng góp của vốn (K) vào tăng trưởng GDP đạt 50%; giai đoạn 2016 - 2020 là 52% và giai đoạn 2021 - 2024 là 47%. Đóng góp của TFP tăng dần từ giai đoạn 2011 - 2015 với mức 35% lên mức 44% giai đoạn 2021 - 2024 (Hình 4).

Hình 4: Đóng góp của các nhân số sản xuất vào GDP. Nguồn: Cục Thống kê.

Các phân tích trên cho thấy, xét về bản chất, tăng trưởng kinh tế được cấu thành từ ba yếu tố chính gồm vốn, lao động và năng suất tổng hợp.

Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, trong 15 năm qua, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào mở rộng vốn đầu tư, trong khi đóng góp của lao động ở mức thấp và năng suất tổng hợp (TFP) dù có cải thiện nhưng chưa thực sự trở thành động lực chính. Điều này phản ánh mô hình tăng trưởng theo chiều rộng vẫn chiếm ưu thế, kéo theo những hạn chế về hiệu quả và tính bền vững.

Đáng chú ý, ngành công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo, mặc dù chiếm tỷ trọng cao trong GDP nhưng lại có năng suất lao động thấp nhất. Lý do có thể là vì phần lớn doanh nghiệp trong lĩnh vực này chủ yếu là gia công lắp ráp với giá trị gia tăng thấp và lệ thuộc doanh nghiệp FDI cả yếu tố đầu vào và đầu ra.

Đặc biệt, các ngành công nghiệp chủ đạo như dệt may, da giày, chủ yếu lại chỉ là nơi gia công cho xuất khẩu trong chuỗi giá trị toàn cầu với biên lợi nhuận rất thấp từ 5-10%. Các ngành này nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu và phụ thuộc quá lớn vào một số thị trường như Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc.

Do vậy, bên cạnh tập trung vào những ngành có năng suất lao động cao như tài chính, ngân hàng, khoa học và công nghệ, cần có các chính sách định hướng, đổi mới mô hình tăng trưởng và tăng năng suất của những ngành mũi nhọn có đóng góp lớn vào GDP như công nghiệp chế biến chế tạo.

Xây dựng các mũi nhọn tăng trưởng mới

Quỹ đạo phát triển truyền thống của Việt Nam dựa trên lao động giá rẻ, gia công xuất khẩu và thu hút FDI nhờ các lợi thế về nhân công đã tiến gần đến ngưỡng giới hạn.

Bối cảnh mới đang xuất hiện những biến số mới, những cơ hội mới từ việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, sự xuất hiện của công nghệ mới như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo. Đây là những yếu tố nền tảng hình thành không gian tăng trưởng mới.

Để GDP tăng trưởng 2 chữ số, chỉ trông chờ vào đầu tư công là không đủ.

Chính phủ đã chọn, đã định hướng và nhiều doanh nghiệp đã vào cuộc. Chúng ta khá thành công trong lĩnh vực dịch vụ phần mềm, phát triển ứng dụng, tích hợp hệ thống, bảo hành, bảo trì để nhanh chóng có nguồn thu nhập nhưng trong dài hạn thì việc phát triển nền tảng hạ tầng, ví dụ như hạ tầng tính toán, hạ tầng dữ liệu, nền tảng AI nền móng, cần phải đặt lên hàng đầu, cần coi đây là yếu tố then chốt xây dựng năng lực cạnh tranh.

Hạ tầng là nền móng, là xương sống, nhưng đầu tư hạ tầng thường không mang lại lợi nhuận trong ngắn hạn và thậm chí có thể coi là kém hiệu quả, do đó lĩnh vực này nên xuất phát từ phía Chính phủ hoặc doanh nghiệp với sự hỗ trợ của Chính phủ.

Nếu không thực hiện chiến lược đầu tư làm chủ hạ tầng thì chúng ta lại tiếp tục đi theo con đường gia công như các ngành kinh tế giai đoạn trước đây.

Lời kết

Mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong dài hạn là một thách thức lớn, nhưng hoàn toàn có thể đạt được nếu nền kinh tế chuyển dịch thành công sang mô hình tăng trưởng dựa trên các yếu tố từ phía cung.

Trong đó, khu vực tư nhân đóng vai trò động lực, năng suất là nền tảng, các ngành mũi nhọn là đột phá, còn hệ thống ngân hàng giữ vai trò dẫn vốn và định hướng chất lượng tăng trưởng. Quan trọng hơn, bên cạnh các con số, chính phương thức và chất lượng tăng trưởng mới là yếu tố quyết định khả năng “vươn mình” của nền kinh tế trong dài hạn.

TS. Đàm Nhân Đức

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục