Tam giác chiến lược kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức tạo động lực mới cho tăng trưởng bền vững. Ảnh: Đức Thanh
Lịch sử đổi mới 40 năm qua đã và đang đi đúng hướng, tuy không nhanh như mong đợi. Nhưng, tương lai sau 40 năm đổi mới là gì, đi đến đâu, đi như thế nào và phát triển với tốc độ ra sao?
Câu trả lời là, kỷ nguyên mới - sự tiếp tục của công cuộc Đổi mới trong thời kỳ mới với bối cảnh và thách thức đã hoàn toàn khác trước, thách thức ngày càng to lớn và trọng trách ngày càng nặng nề, khi mục tiêu Việt Nam trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao năm 2045 chỉ còn 20 năm!
Trong không khí dân chủ, với trách nhiệm và danh dự, hơn lúc nào hết, hiện nay, sau 40 năm Đổi mới, giữa thế giới biến ảo khôn lường, thay vì dự đoán tương lai, hay kêu gọi phép màu, con đường tối ưu là mở tầm viễn kiến, tổng kết lịch sử, nghĩ tới tương lai và hành động kiên định.
Đó là rường cột tinh thần và hành động kiến tạo và phát triển kỷ nguyên Việt Nam phú cường, từ nền tảng 40 năm Đổi mới.
*
* *
Không thể hình dung đúng đắn tương lai Việt Nam trong bối cảnh vận động toàn cầu đa cực, đa tầng, nếu chỉ nhìn vào nội bộ đất nước mà lãng quên hay coi nhẹ việc nghiền ngẫm các kịch bản địa chính trị thế giới, nhận diện xu thế vận động công nghệ, nhân khẩu biến đổi đa tầng, văn hóa toàn cầu dung hòa và xung đột và đặc biệt không thể thiếu sự nhận diện những “cửa sổ cơ hội” song hành dự báo các “vùng bão nguy hiểm” đối với Việt Nam.
Nhìn lại năm 2025, tiếp tục 40 năm, nền kinh tế - xã hội đã và đang thiết lập mặt bằng cân bằng động mới giữa các phương diện trong nội bộ đất nước và giữa đất nước với các quốc gia dân tộc toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng mới song hành bình ổn mới, thì thiên tai lịch sử khắp miền Bắc và miền Trung và các vùng khác với hệ luỵ lâu dài và cộng thêm sự chồng chất biến ảo của thuế quan đối ứng phức tạp từ Hoa Kỳ gây nên cú sốc chưa từng có, thách thức khả năng chống chịu của nền kinh tế và hiệu quả đầu tư công, quản trị rủi ro, phòng chống thiên tai.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá, năm 2025 là thời điểm ghi nhận “sức bật” mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, khi GDP quý III/2025 tăng tới 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Và thực tế, năm 2025, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới; tiếp tục giữ được nền tảng vĩ mô ổn định, ngay trong bối cảnh thương mại quốc tế rất nhiều biến động; tỷ lệ thất nghiệp chỉ 2,2% - mức thấp nhất kể từ quý III/2024.
Mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện và giữ nhịp trước nhiều lực cản: từ xuất khẩu phục hồi, sản xuất công nghiệp cải thiện, đầu tư công có trọng tâm, tín dụng mở rộng, đến việc phát huy các động lực của tam giác tăng trưởng mới: kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Ổn định vĩ mô là điểm tựa, nhân tố bảo vệ nền kinh tế và đứng vững trước những cơn sóng lớn của các cú sốc thiên tai và biến động chính trị, kinh tế toàn cầu.
Trên nền giá đỡ kinh tế, tiến hành đột phá cải cách nền hành chính quốc gia, với chính quyền địa phương 2 cấp, cấu trúc lại hệ thống chính trị, tinh gọn bộ máy; đổi mới hệ thể chế và cơ chế vận hành quốc gia; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đột phá phát triển nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; đầu tư phát triển giáo dục, văn hóa; chú trọng bảo đảm an sinh xã hội; đổi mới, nâng tầm các mối quan hệ quốc tế theo chủ kiến hội nhập thế giới.
Năm 2025 là năm tăng trưởng bùng nổ của kinh tế, duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển cao nhất khu vực và thế giới; toàn bộ đời sống chính trị, văn hóa, xã hội và hội nhập, dù khó khăn, vẫn tiến bước theo lộ trình một cách hài hòa và rộng mở.
Có thể nói, đó là sự khởi đầu của cuộc cách mạng trong cách mạng. Không một cuộc cách mạng nào chỉ có hoa hồng. Vì, cách mạng xã hội chủ nghĩa vốn là khó khăn, phức tạp và hy sinh, nhất là khi nhiều phương diện chưa có trong tiền lệ. Chỉ tính 15 năm đấu tranh trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, riêng cấp Trung ương, có 14 đồng chí bị thực dân Pháp bắn, chém; và, trong 31 đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng (tính đến năm 1960), trước ngày khởi nghĩa, đã “được” thực dân Pháp “tặng” 222 năm tù đày! Trong 4 cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và nhân dân anh dũng hy sinh.
Lịch sử không chỉ là ngày hôm qua. Hôm nay, lịch sử tiếp tục phải tự mở đường cho mình tới tương lai. Vì thế, kỷ nguyên phú cường không chỉ đòi hỏi một tầm viễn kiến, khoa học, mà còn cần cả sự dũng cảm đầy bản lĩnh; không chờ cơ hội, mà còn biết tạo ra cơ hội; không chỉ cần sự kiên định, mà càng cần sự điềm tĩnh và kiên nhẫn hành động, thậm chí cả hy sinh “chết cho chân lý chưa đến”; không sa vào “ăn xổi ở thì”, “bóc ngắn cắn dài”, càng không tự trói mình vào những tín điều “nhất thành bất biến”, “một lần cho tất cả”, và rất cần biết tránh vũng bùn bi quan, yếm thế, “hốt hoảng tự loạn”…, khi thời cơ và tình thế lịch sử đã thay đổi hoàn toàn.
Đó là lẽ tự nhiên và tất yếu.
*
* *
Nhìn tổng thể, trước thềm kỷ nguyên mới, Việt Nam đối mặt với các thách thức lớn từ thế giới:
Trước hết, sự phân cực quyền lực và cạnh tranh địa chính trị, địa kinh tế và địa quân sự… rất khốc liệt và dưới những biến thái mới. Các cường quốc và các khối liên minh: Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU… đang bằng mọi cách tranh giành ảnh hưởng, tái cấu trúc trật tự thế giới và phân chia quyền lực dưới mọi hình thức, mưu toan khống chế thế giới. Đồng thời, trong bầu không khí chính trị - quân sự, kinh tế - quân sự đó, các khu vực đang trở thành “điểm nóng” chưa từng có: Biển Đông, Đài Loan, Ukraina, Trung Đông, Tây Á… khiến bức tranh toàn cầu càng diễn biến phức tạp và rất khôn lường.
Thứ hai, biến đổi khí hậu toàn cầu và an ninh sinh thái. Nhân loại đang đối mặt với những thách thức đầy rủi ro thiên tai, nhất là nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và khủng hoảng môi trường, đặc biệt nguy cơ thiếu nước ngọt và nước biển dâng. Biến đổi khí hậu và sự phát triển bền vững đòi hỏi đổi mới tư duy sinh thái phát triển và hành động thống nhất và đồng bộ mang tính chiến lược toàn cầu.
Thứ ba, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số. Chưa bao giờ như hiện nay, AI, Big Data, tự động hóa đang làm biến đổi toàn diện sản xuất, xã hội. Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và trí tuệ nhân tạo, nếu không tiếp cận công nghệ nhân văn, bất cứ quốc gia, dân tộc nào cũng sẽ “đứng ngoài cuộc chơi lớn” và sẽ bị bỏ lại rất xa và tự loại mình ra khỏi lịch sử phát triển rất sâu.
Thứ tư, biến động kinh tế thế giới: Chuỗi cung ứng, khủng hoảng tài chính lan rộng. Sự suy giảm kinh tế, lạm phát, sự bất ổn thị trường toàn cầu, nhất là các cuộc chiến tranh kinh tế… đòi hỏi các quốc gia dân tộc phải nâng cao năng lực tự chủ kinh tế và liên kết quốc tế linh hoạt nhưng độc lập. Bất cứ quốc gia nào cũng không thể hay rất khó có thể thắng một mình trong các cuộc cạnh tranh, xung đột trên phương diện này.
![]() |
Thứ năm, khủng hoảng giá trị và xung đột văn hóa. Sự xói mòn truyền thống, chủ nghĩa tiêu dùng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan hoành hành, đặc biệt, khi chủ nghĩa dân túy và xung đột toàn cầu đang thao túng thế giới, thì sẽ chỉ sống sót những quốc gia dân tộc nào giữ vững bản sắc văn hóa của mình trong cơn lốc toàn cầu hóa.
Và, có thể hình dung 5 loại mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt: giữa toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đòi hỏi vừa cần hợp tác, vừa khắc chế sự trỗi dậy bảo hộ, phân biệt; giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, dù tăng trưởng nhanh nhưng không đều, gây tổn hại tài nguyên và khí hậu; giữa bùng nổ công nghệ và khủng hoảng đạo đức, nhân văn khi công nghệ phát triển quá nhanh đang xô đẩy con người dễ bị tha hóa, kiểm soát; giữa phân hóa giàu và nghèo ngày càng sâu sắc khi bất bình đẳng kinh tế - xã hội tạo nguy cơ bất ổn chính trị toàn cầu; giữa xu thế hoà bình và chiến tranh dưới mọi hình thức truyền thống, phi truyền thống, chiến tranh kinh tế, văn hóa… làm đảo lộn khu vực, đe dọa bất ổn, rối loạn toàn cầu.
Thế giới luôn thống nhất, nhưng phát triển hết sức đa dạng và phức tạp, thậm chí cả sự chồng lấn những kịch bản khôn lường. Sự thăng trầm, thịnh suy chuyển hóa đa màu sắc của các khu vực, các quốc gia từ đầu thế kỷ XXI, nhất là 10 năm nay, càng vận động đa cấp độ, đa màu sắc và tính chất đang tác động đa chiều và mạnh mẽ tới Việt Nam.
*
* *
Diễn đạt một cách hình ảnh, nếu quả trứng bị vỡ bởi một lực từ bên ngoài, thì cuộc sống bên trong nó nguy cơ sẽ kết thúc. Nhưng, nó bị vỡ bởi một lực từ bên trong với việc giải quyết thành công các mâu thuẫn, thì cuộc sống mới bắt đầu.
Trong bối cảnh quốc tế ấy, trên nền tảng căn bản 40 năm Đổi mới, trực tiếp là năm 2025, trước thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng, cấp bách đòi hỏi đổi mới không chỉ tư duy, tầm viễn kiến chiến lược, mà còn thách thức sự điềm tĩnh tự chủ chiến lược trong hoạch định mọi quyết sách chính trị và hành động một cách kiên định, khoa học, phù hợp và hiệu quả, với phương châm khẩn trương, nhưng không vội vàng, thận trọng, nhưng không bảo thủ, trì trệ, nhất là không nửa vời và càng không thể do dự, cầu toàn.
Hoặc là khởi động năm 2026 hoặc khó có thể bao giờ!
Phát triển tầm nhìn chiến lược
Tư duy nhiệm kỳ, tư duy ngắn hạn là kẻ thù của tầm viễn kiến phát triển quốc gia. Và, càng không thể kéo lê đất nước vào tương lai bằng một thứ tư duy cũ kỹ, phiến diện và “mơ mộng”.
Nói một cách nghiêm khắc, Việt Nam phú cường đòi hỏi không chỉ không ngừng đổi mới tư duy, vượt qua những ưu điểm, phá bỏ những chủ kiến lỗi thời, phát triển tầm nhìn, phương pháp hành động, bao hàm cả sự thừa nhận và bảo vệ suy nghĩ mới mẻ, thậm chí khác thường và tất nhiên cả phương pháp hành động phi truyền thống.
Và, nói một cách hình ảnh, để phát triển hùng cường, người giữ trọng sự quốc gia phải có tầm nhìn xa, phải dấn thân và lôi cuốn toàn dân tộc dám đổi mới, dám vượt qua tiền lệ một cách tỉnh táo và mưu tính toàn vẹn, phù hợp, đầy quyền biến, nhân văn và phù hợp với thời đại.
Đó là cuộc tái tạo lịch sử để vượt lên quá khứ, kiến tạo và phát triển lịch sử mới tương lai.
Vì vậy, một cách tất yếu, xây dựng Việt Nam phú cường trên nền tảng: Bản sắc - sáng tạo - nhân văn làm căn bản nhằm kiến tạo và định hình hệ giá trị và động lực phù hợp với thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số nhằm xây dựng Việt Nam phát triển, hiện đại, sáng tạo và nhân văn với bản lĩnh Việt, đứng trong hàng ngũ các quốc gia tiên tiến và chủ động chiến lược xây dựng trật tự thế giới thế kỷ XXI.
Triết lý kỷ nguyên Việt Nam phú cường
Việt Nam không chỉ là giàu có kinh tế, mà là giàu bản sắc văn hóa, giàu trí tuệ đổi mới, giàu lòng nhân ái và phẩm giá con người: Một nền kinh tế tri thức số hóa và sáng tạo bền vững - một xã hội tự do, hạnh phúc - một Nhà nước kiến tạo - một nền văn hóa hội nhập mà không hòa tan - một bản sắc Việt Nam trí tuệ - nhân văn - một Việt Nam trong toàn cầu hóa, có bản sắc và bản lĩnh.
Nói một cách khái lược, triết lý Việt Nam phú cường đa chiều, bền vững, nhân văn và bản sắc: Không chỉ giàu có về kinh tế, mà phải là phát triển toàn diện: con người, văn hóa, thể chế và bản sắc; phát triển hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và nhân loại, giữa tăng trưởng và công bằng xã hội với động lực cốt lõi là khai phóng trí tuệ con người Việt Nam và xây dựng Nhà nước pháp quyền kiến tạo phát triển xã hội chủ nghĩa.
Càng tự chủ chiến lược cao độ càng phát triển và hội nhập vững vàng.
Phát triển phẩm giá quốc gia
Từ thực tiễn 40 năm Đổi mới, chúng ta đã và đang thực thi một cách hiệu quả “phần móng” vững chắc cho một triết lý phát triển dân tộc có chiều sâu nhân văn và tầm nhìn toàn cầu: Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng toàn diện: kinh tế - văn hóa - trí tuệ - đạo đức.
Tất cả nhằm hướng tới xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng toàn diện:
Một: Việt Nam tự chủ chiến lược toàn diện: Từ kinh tế, quốc phòng, khoa học - công nghệ đến văn hóa, bản sắc.
Hai: Việt Nam trí tuệ, khai mở, giải phóng và sáng tạo: Tự thân đổi mới, sánh vai với những quốc gia tiên tiến.
Ba: Việt Nam nhân văn và bền vững: Phát triển nhưng giữ vững đạo lý dân tộc, gìn giữ môi trường sống thống nhất với môi trường chính trị - xã hội - văn hóa đất nước và quốc tế.
Bốn: Việt Nam đoàn kết quốc dân: Mỗi người dân đều là chủ thể của sự phát triển, không bị bỏ lại phía sau.
Năm: Việt Nam có ảnh hưởng tích cực trong thế giới: Không chỉ nhận, mà chủ động cống hiến cho nhân loại.
Định vị trụ cột phát triển chiến lược
Trước thời cơ và thách thức mới, hơn bao giờ hết, tiếp tục xây dựng triết lý Việt Nam thịnh vượng với sự phát triển ba tính chất:
Thứ nhất: Việt Nam trí tuệ: Giáo dục sáng tạo, khoa học tiên phong, công dân toàn cầu.
Thứ hai: Việt Nam kiến tạo: Nhà nước đóng vai trò xây dựng và bảo đảm môi trường cho sáng tạo, dân chủ và khởi nghiệp xã hội bằng hệ thống pháp luật và hệ công cụ quản lý phù hợp.
Thứ ba: Việt Nam nhân văn: Văn hóa Việt Nam làm nền cho ứng xử toàn cầu; coi trọng phẩm giá, đạo đức con người.
Trong các phương hướng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nếu Đảng ta xác định 3 trụ cột: một - Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển đất nước; hai - Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là công cụ, phương tiện giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Việt Nam; ba- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là hình thức tối ưu bảo đảm quyền lực nhà nước của Nhân dân và thực thi, bảo vệ quyền dân chủ của Nhân dân.
Cần thiết kiến tạo: Văn hóa là trụ cột thứ tư và phương diện tối cần thiết: Khoa học công nghệ là trụ cột thứ năm hợp thành 5 trụ cột bảo đảm phát triển nhanh, mạnh, bền vững và nhân văn kinh tế - xã hội Việt Nam.
*
* *
Không nhận diện sâu sắc các mâu thuẫn, thách thức từ thời đại, ở trong nước và không hóa giải thành công bằng trí tuệ và bản lĩnh dân tộc, Việt Nam sẽ không thể phát triển như mong đợi, thậm chí bị bỏ lại phía sau, tối thiểu 6 loại mâu thuẫn chủ yếu: giữa phát triển kinh tế nhanh và chất lượng phát triển bền vững; giữa cải cách thể chế và lực cản bảo thủ; giữa yêu cầu dân chủ hóa đời sống xã hội và năng lực quản trị hiện đại hóa; giữa dân số trẻ năng động và hệ thống giáo dục - đào tạo lỗi thời; giữa phát triển kinh tế với suy thoái môi trường sinh thái; giữa hội nhập quốc tế và bảo tồn bản sắc văn hóa, giữ vững tự chủ chiến lược.
Để phát triển Việt Nam phú cường giàu bản sắc văn hóa - giàu trí tuệ đổi mới - giàu lòng nhân ái và phẩm giá con người, cần nắm chắc tối thiểu 5 phương diện cơ bản:
Một là Nhà nước Việt Nam: Pháp trị - kiến tạo - dân chủ - minh bạch: Xây dựng hệ thống quản trị công hiện đại, minh bạch, công bằng, liêm chính trong vị thế là “cửa mở” của mọi sự phát triển của quốc gia. Lãnh đạo bằng khoa học và giáo dục; bằng dân chủ và pháp trị; bằng tiên phong và đạo đức. Thúc đẩy dân chủ hóa xã hội trên nền tảng pháp quyền và đạo lý dân tộc. Văn hóa hóa chính trị, pháp luật và quản trị quốc gia làm nền tảng. Bảo đảm tăng trưởng GDP cao, nhưng phải bền vững song hành với công bằng và nâng đỡ yếm thế. Cảnh giới nguy cơ tái khủng hoảng cục bộ trở lại vừa phá vỡ chỉnh thể nền kinh tế, vừa gây di hoạ về chính trị và xã hội.
Hai là kinh tế Việt Nam: Tri thức hóa - số hóa - xanh hóa: Tam giác chiến lược phát triển xanh - số - tri thức, động lực mới của nền kinh tế xứng tầm ba trụ cột quan trọng cho tăng trưởng bền vững, hình thành quỹ đạo nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh quốc gia trong thập niên tới, với động lực chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích khởi nghiệp công nghệ cao và mô hình doanh nghiệp xã hội. Hướng ra biển, phát triển kinh tế biển để đất nước cất cánh và hội nhập với tầm nhìn xứng đáng với thế kỷ của đại dương. Khắc chế và hóa giải các nguy cơ lâm vào bẫy thu nhập trung bình, bẫy nợ nần, bẫy nghèo mới, bẫy thuộc địa số và nô lệ số… - mối nguy làm khuynh đảo nhiều quốc gia dân tộc – song hành với mở rộng an sinh xã hội, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với kinh tế nhà nước là nền tảng, dẫn dắt nền kinh tế quốc gia; kinh tế ngoài nhà nước, trước hết là kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, là đòn bẩy phát triển mang tầm chiến lược, cùng với kinh tế đối ngoại làm cửa mở trọng yếu bảo đảm phát triển nội lực và cân bằng chiến lược trong cuộc tự chủ chiến lược hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng.
Ba là con người Việt Nam: Trí tuệ - khai phóng - sáng tạo - cầu thị: Xã hội phát triển ngày càng năng động càng đòi hỏi cao về dân chủ, minh bạch. Thanh niên Việt Nam khát khao sáng tạo, nhưng môi trường học tập, khởi nghiệp còn hạn chế. Tương lai dân tộc phụ thuộc cơ bản việc giải quyết mối lo này. Cải cách giáo dục toàn diện: tự do tư duy, học suốt đời, sáng tạo thực tế. Khuyến khích phát triển tài năng chính trị, khoa học, nghệ thuật. Cảnh giới nguy cơ tạo nên khủng hoảng, đe doạ phát triển cân bằng, hài hoà và bền vững. Đây là nhân tố căn bản quyết định phát triển hài hòa, bền vững và nhân văn.
Bốn là văn hóa Việt Nam: Hội nhập - nhân văn - bản sắc: Toàn cầu hóa lấn át, nguy cơ tàn phá văn hóa dân tộc. Đó là cái gốc của phát triển bản sắc và bền vững. Chủ động giao lưu toàn cầu nhưng giữ vững bản sắc Việt, với sức mạnh mềm văn hóa trong hội nhập và lan tỏa sức mạnh và uy tín quốc tế. Tinh thần đối thoại, hòa giải và hợp tác phải là bản chất văn hóa phát triển của Việt Nam trong tất cả các mối quan hệ chính trị hay kinh tế, đối nội hay đối ngoại.
Năm là quốc phòng Việt Nam: Toàn dân - công nghệ cao - chủ động chiến lược: Kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền, giữ vững sự cân bằng chiến lược một cách khôn khéo. Tăng cường tự chủ quốc phòng công nghệ cao; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc; phòng, chống mọi hình thái chiến tranh nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất, tự quyết, góp phần gìn giữ toàn vẹn nền hòa bình thế giới.
*
* *
Từ vị thế năm 2025, dân tộc kiến tạo kỷ nguyên Việt Nam phú cường mang tầm lịch sử và thời đại.
Đây là thời kỳ mới của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, thách thức mọi giới hạn phát triển bằng tầm viễn kiến chiến lược 20 năm tới, với nghệ thuật xử lý thời cơ, cải cách hệ thống chính trị và hành chính bộ máy và vận hành bằng cơ chế phù hợp, trung tâm là kiểm soát và cân bằng động quyền lực ở tất cả các phương diện, đối với mọi tổ chức, ở mọi quy mô, cấp độ và mỗi con người; bằng phương thức mới tập hợp lực lượng đông đảo; bằng hệ động lực phát triển mới với hệ thể chế thực thi tổng thể, thống nhất, đồng bộ và đủ mạnh…, nhằm tạo ra tốc độ phát triển vượt bậc và toàn diện với quy mô và chất lượng mới, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, nhịp bước cùng thời đại, trong tầm nhìn năm 2045.
Năm 2026 - năm của số thành - thời khắc lịch sử điểm chuông kỷ nguyên Việt Nam phú cường.
Muốn thành tre, măng nhìn về phía mặt trời và phải đội đất mà lên!
