Sáng 2/10, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo “Hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới, bảo đảm kết hợp chặt chẽ giữa an ninh với kinh tế - xã hội, đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”.
Từ thu hút FDI về lượng sang tạo giá trị cho nền kinh tế
Sau gần 40 năm thực hiện chính sách mở cửa, Việt Nam đã thu hút hơn 560 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt hơn 367 tỷ USD, tương đương trên 65,4%. Cả nước hiện có 47.793 dự án FDI còn hiệu lực.
Theo PGS.TS. Trung tướng Trịnh Ngọc Quyên, Giám đốc Học viện An ninh, dòng vốn FDI trong những năm qua không chỉ bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, mà còn góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu và đưa Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới.
Vai trò của khu vực FDI được thể hiện rõ qua hoạt động xuất khẩu. Theo Cục Thống kê, 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ và chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Tuy nhiên, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, kết quả thu hút FDI không chỉ được nhìn nhận qua số lượng dự án, vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu, mà cần hướng tới mục tiêu tạo ra giá trị ròng cao hơn cho nền kinh tế, góp phần củng cố năng lực phát triển quốc gia, đặc biệt là khả năng chống chịu và tự chủ chiến lược trong bối cảnh phân mảnh chính trị quốc tế.
Quá trình thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài những năm qua cũng thúc đẩy Việt Nam xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, thương mại và hội nhập quốc tế, qua đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của môi trường đầu tư, kinh doanh.
GS.TS. Trung tướng Trịnh Ngọc Quyên cho rằng vẫn còn không ít bất cập. Năng lực quản lý nhà nước, công tác giám sát và đánh giá hiệu quả dự án tại một số địa phương còn hạn chế; chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Theo ông, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, do đó việc thiếu một hệ thống quy phạm pháp luật đầy đủ để thể chế hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn liên quan đến lợi ích và an ninh quốc gia trong quản lý, thu hút đầu tư nước ngoài có thể tiềm ẩn rủi ro đối với độc lập, tự chủ và an ninh kinh tế.
Một số nguy cơ được chỉ ra là việc lợi dụng hợp tác đầu tư để tác động đến chính sách, pháp luật, thu thập thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước hoặc hình thành sự phụ thuộc vào công nghệ, vốn và nguồn nhân lực nước ngoài trong một số ngành, lĩnh vực then chốt.
Cần “bộ lọc” để quản trị rủi ro FDI
Từ thực tế trên, GS.TS. Trung tướng Trịnh Ngọc Quyên cho rằng cần nhận diện đầy đủ các nguy cơ, thách thức và rủi ro chiến lược đối với an ninh, lợi ích quốc gia trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Theo đó, chính sách và pháp luật về thu hút, quản lý FDI cần được hoàn thiện theo hướng quản trị rủi ro, kiến tạo phát triển, đồng thời xây dựng cơ chế và bộ tiêu chí thẩm định, đánh giá tổng hợp các dự án FDI trên nhiều phương diện, gồm kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường, an ninh và quốc phòng.
Việt Nam cũng có thể nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý, sàng lọc và giám sát đầu tư nước ngoài gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, từ đó lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển của Việt Nam.
Một hướng được đề xuất là hoàn thiện chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài theo hướng chủ động phòng ngừa rủi ro chiến lược, đồng thời phát triển đồng bộ hệ sinh thái FDI gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, dữ liệu và năng lượng.
| |
TS. Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Thứ trưởng Bộ Công an phát biểu kết luận hội thảo. (Ảnh: Thế Hải). |
Phát biểu kết luận hội thảo, TS. Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an khẳng định, thành tựu thu hút FDI trong giai đoạn vừa qua đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trung tâm sản xuất của nền kinh tế toàn cầu, đóng góp lớn cho xuất khẩu, với quy mô xuất khẩu liên tục tăng qua các năm.
Nhấn mạnh hơn 29.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động với trên 47.000 dự án còn hiệu lực, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Văn Tuyến cho rằng khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Nhưng, chất lượng, hiệu quả thu hút và công tác quản lý dòng vốn này vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục được định hướng, sửa đổi trong thời gian tới.
Thứ trưởng lưu ý nguy cơ xuất hiện các dự án FDI “núp bóng”, có thể tác động đến an ninh quốc gia và tạo ra những rủi ro đối với nền kinh tế.
“Chúng ta không quá chú trọng số lượng nữa mà cần tập trung vào chất lượng. Tư duy thu hút vốn FDI phải khác giai đoạn đầu mở cửa, cần chọn lọc, hướng vào các lĩnh vực trọng điểm, tạo cú hích cho nền kinh tế”, Thứ trưởng Lê Văn Tuyến nói.
Trong giai đoạn tới, Thứ trưởng kỳ vọng thu hút thêm các dự án FDI vào những địa bàn còn khó khăn, qua đó góp phần tạo việc làm, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đặt ra nhiệm vụ trọng tâm hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm quản lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới bảo đảm kết hợp chặt chẽ giữa an ninh với kinh tế - xã hội, đối ngoại.