Gỡ điểm nghẽn thể chế cổ phần hóa

(ĐTCK) Khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang nắm giữ khối tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, nhưng tiến trình cổ phần hóa thời gian qua vẫn diễn ra chậm. Trong bối cảnh đó, Thông tư 103/2026/TT-BTC được kỳ vọng tháo gỡ các nút thắt về tài chính, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi.
Hoàn thiện cơ chế tài chính được kỳ vọng tạo thêm động lực cho tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Khối tài sản lớn, cổ phần hóa còn chậm

Khu vực DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế. Tính đến cuối năm 2025, cả nước có 695 DNNN, gồm 497 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm cổ phần, vốn góp chi phối. Tổng tài sản toàn khu vực đạt xấp xỉ 4,5 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu khoảng 2,02 triệu tỷ đồng; doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế khoảng 261.000 tỷ đồng và đóng góp ngân sách nhà nước khoảng 390.000 tỷ đồng.

Yêu cầu đẩy nhanh quá trình chuyển đổi trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết khi vị thế của khu vực DNNN được đặt ở tầm cao mới trong Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Nghị quyết xác định phải “đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước”, “cơ cấu lại một cách thực chất, hiệu quả, giảm đầu mối, tăng quy mô”; đặt mục tiêu đến năm 2045 có khoảng 60 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 5 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Nghị quyết cũng định hướng tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.

Cụ thể hóa chủ trương trên, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó xác định cổ phần hóa doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải gắn với mục tiêu nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch trong xử lý vốn và tài sản nhà nước.

Tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn giai đoạn 2021 - 2025 diễn ra chậm hơn kế hoạch; nhiều phương án tại các tập đoàn, tổng công ty lớn phải kéo dài thời gian chuẩn bị. Đáng lưu ý, theo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, hiện còn gần 70 doanh nghiệp có nguồn gốc từ cổ phần hóa chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông, gồm 21 doanh nghiệp thuộc nhóm F1 và 46 doanh nghiệp thuộc nhóm F2. Thực trạng này cho thấy cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính và quản lý vốn nhằm khơi thông tiến trình chuyển đổi.

Nhận diện những điểm nghẽn thể chế cốt lõi

Các điểm nghẽn trong cổ phần hóa DNNN đều gắn với yêu cầu phân định rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế và chức năng kinh doanh.

Tiến trình cổ phần hóa chậm không chủ yếu do thiếu quyết tâm thực thi, mà xuất phát từ những điểm nghẽn thể chế tồn tại nhiều năm.

Điểm nghẽn đầu tiên là sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế giao vốn và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp: Nhà nước giao doanh nghiệp quản lý khối tài sản và nguồn vốn rất lớn, nhưng quyền chủ động khai thác các nguồn lực này theo cơ chế thị trường vẫn còn hạn chế. Khi tài sản, đất đai chủ yếu được giao dưới hình thức quản lý hành chính mà chưa gắn với quyền tự quyết đầu tư hay định giá thương mại, doanh nghiệp khó đưa tài sản vào lưu thông để tạo giá trị gia tăng. Hệ quả là nhiều đơn vị nắm giữ khối tài sản hàng nghìn tỷ đồng nhưng dư địa tăng trưởng vẫn bị thu hẹp.

Điểm nghẽn thứ hai, cũng là lực cản lớn nhất kéo dài thời gian chuẩn bị cổ phần hóa, là việc xác định giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Quy trình phê duyệt phương án sắp xếp, xử lý nhà đất phải qua nhiều cấp, nhiều cơ quan với thủ tục phức tạp, khiến quá trình chuẩn bị mất nhiều thời gian.

Điểm nghẽn thứ ba liên quan đến xử lý các tồn tại tài chính trước khi doanh nghiệp chính thức chuyển sang công ty cổ phần. Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng và đầu tư ngoài ngành đòi hỏi khung pháp lý đủ rõ ràng, linh hoạt; trong khi tiêu chí phân loại nợ chưa cụ thể khiến quá trình định giá kéo dài.

Một điểm nghẽn khác nằm ở tâm lý thận trọng của người quản lý doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển giao. Khi ranh giới giữa rủi ro kinh doanh theo cơ chế thị trường và sai phạm trong quản lý vốn nhà nước chưa được phân định thật rõ, một bộ phận lãnh đạo có xu hướng chờ đợi hướng dẫn chi tiết thay vì chủ động đề xuất phương án. Đây cũng là vấn đề mà Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra hướng xử lý, với yêu cầu xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi.

Nhìn tổng thể, các điểm nghẽn trên đều gắn với yêu cầu phân định rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế và chức năng kinh doanh như Nghị quyết 79-NQ/TW đã đặt ra. Khi cơ quan quản lý tập trung hoàn thiện thể chế, còn việc quản lý, vận hành vốn được giao cho các tổ chức chuyên trách hoạt động theo cơ chế thị trường, khu vực DNNN sẽ có thêm không gian để phát huy hiệu quả nguồn lực.

Thông tư 103: Cơ chế mới tháo gỡ nút thắt và giải pháp đồng bộ

Triển khai Nghị định số 57/2026/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 103/2026/TT-BTC hướng dẫn cổ phần hóa doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Thông tư cụ thể hóa nhiều quy định về tài chính và định giá doanh nghiệp nhằm xử lý trực tiếp các vướng mắc kỹ thuật trong quá trình cổ phần hóa.

Điểm đột phá đầu tiên tại Thông tư 103 nằm ở cơ chế phân loại và xử lý tài chính minh bạch (Điều 3). Để làm sạch sổ sách tài chính trước khi định giá, Thông tư quy định doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với các bên liên quan thực hiện đối chiếu, xác nhận và phân loại toàn bộ các khoản nợ phải thu, nợ phải trả. Đối với các khoản nợ phải thu khó đòi hay công nợ tồn đọng kéo dài, việc xác định rõ trách nhiệm và hướng xử lý tài chính dứt điểm trước thời điểm định giá sẽ giúp phản ánh chính xác tình trạng sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, loại bỏ rủi ro tranh chấp kéo dài sau khi cổ phần hóa. Bên cạnh đó, Điều 4 tiếp tục quy định việc xử lý tài chính tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần, bảo đảm quá trình xử lý được thực hiện đầy đủ theo hai giai đoạn.

Thông tư 103/2026/TT-BTC cụ thể hóa nhiều quy định về tài chính trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Thứ hai, Thông tư 103 mang lại sự thay đổi căn bản trong phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp (Điều 6). Thông tư xác lập nguyên tắc định giá bám sát giá thị trường tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp. Đối với các tài sản hiện vật như máy móc, thiết bị, nhà cửa, phương pháp tính toán dựa trên giá mua mới, chi phí vận chuyển, lắp đặt thực tế và tỷ lệ chất lượng còn lại của tài sản (được quy định không thấp hơn 20% đối với máy móc, nhà cửa). Cách tiếp cận này giúp khắc phục tình trạng định giá thấp hơn nhiều giá trị thực tế, bảo đảm nguyên tắc minh bạch, bám sát giá thị trường và ngăn ngừa thất thoát vốn nhà nước.

Thứ ba, để giải quyết hiện tượng kéo dài khâu bàn giao tài sản và hồ sơ vốn sang công ty cổ phần, Thông tư 103 siết chặt thời hạn bàn giao (Điều 5). Theo đó, thời hạn bàn giao giữa DNNN và công ty cổ phần được quy định tối đa 15 ngày kể từ khi có kết quả xác định lại vốn nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp chính thức được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cổ phần. Quy định này giúp hạn chế tình trạng chậm bàn giao, tạo điều kiện để doanh nghiệp sớm ổn định bộ máy quản trị và đi vào hoạt động.

Thứ tư, Thông tư 103 chú trọng tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp (Điều 12). Doanh nghiệp cổ phần hóa có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, dự thảo điều lệ trước khi tiến hành bán cổ phần, đồng thời bắt buộc công khai thông tin rộng rãi trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp và cổng thông tin của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và tạo nền tảng cho việc niêm yết sau cổ phần hóa.

Bên cạnh những thay đổi từ Thông tư 103, để tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn kéo dài vẫn cần những giải pháp mang tính thể chế, trong đó đẩy mạnh vai trò của SCIC. Việc định hướng nâng cấp SCIC tiến tới mô hình Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp sẽ giúp tách biệt hoàn toàn chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành với chức năng chủ sở hữu vốn.

Đồng thời, cần tạo cơ chế bảo vệ chính đáng, phù hợp cho lãnh đạo doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển giao. Trước hết, cần thể chế hóa rõ ranh giới giữa rủi ro kinh doanh khách quan theo cơ chế thị trường và hành vi vi phạm trong quản lý vốn nhà nước. Việc cụ thể hóa tiêu chí này trong các văn bản hướng dẫn cổ phần hóa, trên cơ sở vận dụng Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị và Nghị định số 73/2023/NĐ-CP về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, sẽ giúp người quản lý yên tâm hơn khi đề xuất phương án theo tín hiệu thị trường.

Cùng với đó, theo định hướng tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, cần thiết lập quy trình xem xét độc lập, toàn diện và minh bạch để đánh giá bản chất vụ việc là sai sót khách quan hay vi phạm pháp luật, bảo đảm xử lý đúng người, đúng việc. Ở cấp độ tác nghiệp, việc phát huy vai trò của các tổ chức tư vấn định giá, kiểm toán độc lập, cùng với áp dụng nguyên tắc đánh giá hiệu quả tổng thể trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ được giao thay vì xem xét đơn lẻ từng quyết định giúp giảm áp lực trách nhiệm cá nhân và khuyến khích tinh thần chủ động trong giai đoạn chuyển giao.

Tuấn Thành

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục