Các nghệ nhân trình diễn và hướng dẫn du khách trải nghiệm se tơ, rút đũi tại làng nghề dệt đũi Nam Cao (Ảnh: Hồ Hạ)
Nơi tiếng thoi đưa níu giữ thời gian
Con đường dẫn vào làng dệt đũi Nam Cao mở ra một không gian rất khác, đủ tĩnh lặng để người ta có thể nghe thấy nhịp thoi đưa của làng. Ở đó, nhịp sống dường như chậm lại, không phải vì thiếu vắng chuyển động, mà bởi mỗi chuyển động đều diễn ra khoan thai, có trật tự, như thể đã được sắp đặt sẵn từ nhiều thế hệ.
Tiếng thoi đưa đều đặn vang lên từ những ngôi nhà thấp mái ngói, hòa cùng mùi kén tằm ngâm nước phảng phất trong gió, tạo nên một cảm giác quen thuộc, mà hiếm nơi nào còn giữ được. Làng bao đời nay vẫn thế, không ồn ào đón khách, cũng không phô trương bảng biển giới thiệu. Nam Cao chào đón du khách bằng sự bình thản của một vùng quê đã quen sống cùng thời gian, quen đi qua biến động, mà không đánh mất nhịp sống riêng.
Ở đây, người ta không cần vội. Chỉ cần đứng lặng trước một khung cửi, nhìn đôi chân người thợ nhịp nhàng đạp cửi, đôi tay thoăn thoắt đưa thoi, cũng đủ hiểu vì sao nghề dệt đũi có thể bền bỉ đến vậy.
Đến làng nghề dệt đũi Nam Cao, du khách có cảm giác như đang trong một hành trình trở về. Trở về với ký ức làng quê Bắc Bộ, nơi nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với nhịp mùa vụ, nơi người nông dân sau buổi cày cấy lại ngồi bên khung cửi, gửi công sức và sự kiên nhẫn vào từng sợi tơ, từng tấm vải.
Theo sử liệu địa phương, nghề dệt đũi Nam Cao xuất hiện từ năm 1584, gắn với hai bà Từ Tiên và Từ An rời làng Vân Xa của Hà Tây cũ về đây mở nghề trồng dâu, nuôi tằm, rút đũi và dệt cửi. Từ những ngày đầu ấy, nghề bén rễ vào đời sống cộng đồng, truyền từ đời này sang đời khác, âm thầm nuôi dưỡng sinh kế và hình thành nên bản sắc riêng của vùng đất trung châu Bắc Bộ.
Bà Lương Thanh Hạnh, Giám đốc Hợp tác xã lụa đũi Nam Cao, chậm rãi nhắc lại câu nói mà người làng vẫn truyền nhau như một lời răn dạy: “Thoi đi một tấc, đời để lại ngàn công”. Câu nói ngắn gọn ấy hàm chứa cả một triết lý sống, nhắc con cháu về sự bền bỉ, cẩn trọng và lòng tôn kính với nghề. Mỗi tấm đũi ra đời là kết tinh của thời gian, của đôi chân đạp cửi nhịp nhàng, đôi tay quen với sự tỉ mỉ và tinh thần lao động bền bỉ được truyền qua nhiều thế hệ.
![]() |
Khi tiếng thoi từng chùng xuống
Danh tiếng của đũi Nam Cao lan rộng từ thế kỷ XIX, khi kỹ thuật rút lõi tơ tằm đạt đến độ tinh xảo hiếm có. Thời kỳ rực rỡ được nhiều người nhắc đến vào khoảng năm 1935, khi làng xuất hiện thêm nghề dệt tuýt xo, với 387 người kéo đũi làm sợi và khoảng 400 khung cửi dệt rộng, hẹp; có gia đình sở hữu tới sáu, bảy khung. Những chuyến hàng nối nhau rời làng, mang theo sợi đũi Nam Cao sang Pháp, Lào, Thái Lan và một số thị trường châu Âu. Trong ký ức người làm nghề, đó là giai đoạn tiếng thoi đưa vang lên từ sáng đến tối, cả làng cùng chung một nhịp sống.
Rồi thị trường biến động. Từ sau năm 1986, những thay đổi của cơ chế kinh tế khiến nghề dệt đũi dần thu hẹp. Xuất khẩu thiếu ổn định, đầu ra bấp bênh, nhiều gia đình buộc phải cất khung cửi, để lại những khoảng lặng trong không gian làng. Dù từng được UBND tỉnh ban hành quyết định công nhận làng nghề, đến ngày 30/8/2019, Bằng công nhận buộc phải thu hồi khi sản xuất không còn đáp ứng tiêu chí. Với người Nam Cao, đó là giai đoạn buồn, khi nghề cha ông đứng trước nguy cơ mai một.
Thế nhưng, ngọn lửa nghề chưa từng tắt. Từ năm 1992, phong trào khôi phục nghề âm thầm lan tỏa trong cộng đồng. Người dân dựng lại khung cửi, gom kén, rút đũi, kiên trì nối lại sợi dây giữa quá khứ và hiện tại. Bước ngoặt đến vào năm 2012, khi bà Lương Thanh Hạnh, chủ thương hiệu Hanhsilk, tìm về Nam Cao bằng tinh thần khởi nghiệp và tình yêu với lụa đũi. Từ ba hộ dân cuối cùng còn giữ nghề, đến năm 2016, làng nghề lụa đũi Nam Cao được khôi phục với hơn 200 hộ tham gia, kéo theo sự sống trở lại của các làng nghề trồng dâu, nuôi tằm, nhuộm vải lân cận.
![]() |
Trong hành trình ấy, những nghệ nhân cao tuổi trở thành trụ cột tinh thần của làng nghề. Đơn cử, cụ Phạm Thị Hồng, 96 tuổi, vẫn đều đặn ngồi kéo đũi dưới mái hiên cũ. Đôi tay in hằn dấu vết thời gian, có lúc run run, nhưng từng động tác vẫn thuần thục. Mỗi sợi đũi cụ kéo ra là một mảnh ký ức sống động của làng nghề, là minh chứng cho một kỹ năng mà sách vở khó có thể ghi chép đầy đủ.
Theo bà Lương Thanh Hạnh, rút đũi là công đoạn vất vả nhất và cũng quyết định chất lượng sợi. Người thợ phải ngâm tay trong nước, tinh mắt lựa từng sợi tơ bị đứt rồi vê lại cho tròn. “Một người kéo đũi cả ngày cũng chỉ được khoảng 70 đến 100 gram, nhưng đó là tinh hoa của nghề, là thứ mà đến nay máy móc vẫn chưa thể thay thế”, bà Hạnh chia sẻ.
Di sản sống cùng cộng đồng và du khách
Mỗi tấm vải ra đời là kết tinh của thời gian, của đôi chân đạp cửi, đôi tay rút sợi và sự kiên nhẫn mà không máy móc nào thay thế được.
- Bà Lương Thanh Hạnh, Giám đốc Hợp tác xã lụa đũi Nam Cao
Giữ nghề bằng ký ức là chưa đủ. Để đũi Nam Cao tiếp tục sống trong đời sống hôm nay, những người làm nghề đã lựa chọn con đường thích ứng. Hợp tác xã lụa đũi Nam Cao hướng đến sản xuất xanh, áp dụng kỹ thuật nhuộm tự nhiên từ lá bàng, nếp cẩm, gấc và cây bản địa, tạo nên những gam màu trầm, mềm mại, mang bản sắc riêng giữa xu hướng tiêu dùng bền vững.
Hiện làng nghề có hai doanh nghiệp, một hợp tác xã và ba hộ dân tham gia sản xuất, tạo việc làm cho khoảng 195 lao động với thu nhập 5-8 triệu đồng mỗi tháng. Các sản phẩm lụa được hoàn thiện qua nhiều công đoạn thủ công công phu, trong không gian xưởng dệt luôn vang tiếng thoi đưa đều đặn.
Sự kiên định ấy đã mang lại trái ngọt. Ngày 10/11/2023, nghề dệt đũi Nam Cao được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đến năm 2025, sản phẩm bộ chăn ga lụa đũi Nam Cao của Hợp tác xã tiếp tục được công nhận OCOP 4 sao. Cùng với sự hồi sinh của nghề, Nam Cao trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách quốc tế yêu thích trải nghiệm văn hóa bản địa. Mỗi năm, làng nghề đón hàng chục ngàn lượt khách, trong đó trên 30% là người nước ngoài. Theo bà Lương Thanh Hạnh, nhiều đoàn khách bày tỏ sự thích thú trước nụ cười hồn hậu của người dân và không khí làng quê mộc mạc còn nguyên vẹn.
Du khách ấn tượng khi được tận mắt chứng kiến trọn vẹn quy trình làm lụa đũi thủ công, từ kéo kén, se tơ đến dệt vải, thậm chí trực tiếp ngồi bên khung cửi trải nghiệm. Những bữa quà quê ấm cúng trong sân đình, nơi người dân kể câu chuyện giữ nghề qua nhiều thế hệ, để lại nhiều xúc cảm khó quên.
![]() |
Theo bà Hạnh, mỗi sản phẩm lụa đũi cần khoảng 90 ngày để hoàn thiện. Từ sắc trắng ngà, nâu đất truyền thống, bảng màu nay được mở rộng với những gam màu thiên nhiên như đỏ của gấc, tím của nếp cẩm, xanh từ lá cây, vàng nguyên bản của kén tằm hay nâu từ lá bàng, tạo nên sự thích thú cho du khách khi tham quan không gian sản xuất.
Nghệ nhân Phạm Thị Nức, thành viên Hợp tác xã lụa đũi Nam Cao, cho biết, nghề dệt đũi được duy trì theo cách cha truyền con nối. Từ khi làng nghề trở thành điểm đến du lịch, người làm nghề phấn khởi khi sản phẩm được nhiều du khách quốc tế ghi nhận và khen đẹp. Khách châu Âu thường đến làng đông nhất từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau.
Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên Phạm Văn Hiệu cho rằng, mỗi làng nghề đều có tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa. Thời gian tới, Sở sẽ phối hợp hỗ trợ đào tạo kỹ năng đón tiếp khách, xây dựng tiêu chí điểm đến du lịch nông thôn và kết nối tour tuyến, hướng tới đưa làng dệt đũi Nam Cao trở thành điểm dừng chân bền vững trên bản đồ du lịch tỉnh.
Trên vùng đất trầm tích của đồng bằng Bắc Bộ, tiếng thoi đưa ở làng dệt đũi Nam Cao vẫn vang lên mỗi ngày. Nghề dệt đũi nơi đây dệt nên nhiều hơn những tấm vải. Đó là ký ức của làng quê, là niềm tự hào của người Hưng Yên và là minh chứng cho sức sống bền bỉ của một nghề thủ công Việt Nam, đang chậm rãi nhưng vững vàng bước tiếp trong dòng chảy thời gian.


