Giữ nhịp thanh khoản

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 với mục tiêu khoảng 15% và hàng loạt yêu cầu kiểm soát nhịp độ giải ngân cho thấy nhà điều hành đang ưu tiên ổn định thanh khoản và an toàn hệ thống, hơn là thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá.
Tăng trưởng tín dụng những năm gần đây thường có xu hướng dồn cục, tạo ra các đợt căng thẳng thanh khoản cục bộ Tăng trưởng tín dụng những năm gần đây thường có xu hướng dồn cục, tạo ra các đợt căng thẳng thanh khoản cục bộ

Từ “đích đến” chuyển sang kiểm soát “nhịp độ”

Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 9/1/2026 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng đã xác lập rõ tinh thần điều hành tín dụng năm nay: Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng bền vững và đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD). Theo đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được định hướng ở mức khoảng 15%, có điều chỉnh tăng hoặc giảm phù hợp với diễn biến thực tế.

Điểm đáng chú ý trong định hướng năm nay không chỉ nằm ở con số mục tiêu, mà ở cách thức điều hành. NHNN yêu cầu các TCTD kiểm soát tốc độ tăng tín dụng trong 3 tháng đầu năm không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm nhằm tránh tình trạng dồn vốn vào một số thời điểm, gây áp lực lên thanh khoản và làm gia tăng rủi ro hệ thống. Cùng với đó, tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản được yêu cầu không tăng vượt tốc độ tăng trưởng chung của từng TCTD so với cuối năm 2025.

Những yêu cầu này cho thấy NHNN đang dịch chuyển từ điều hành theo “đích cuối năm” sang quản lý chặt chẽ “nhịp độ” tín dụng theo thời gian và theo lĩnh vực. Sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng những năm gần đây thường có xu hướng dồn cục, tạo ra các đợt căng thẳng thanh khoản cục bộ, buộc cơ quan điều hành phải can thiệp mạnh qua các công cụ thị trường mở.

Chính từ góc nhìn đó, tác động của định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 đến thanh khoản hệ thống cần được đánh giá không chỉ ở tổng lượng tín dụng, mà còn ở cấu trúc và dòng chảy của dòng vốn.

Bà Nguyễn Thúy Hạnh - Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp và Đầu tư, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cho rằng, vấn đề cốt lõi không nằm ở con số tuyệt đối, mà là cách phân bổ dòng vốn. Giải ngân đều đặn, ưu tiên cho sản xuất - kinh doanh và các phân khúc bất động sản phục vụ nhu cầu thực sẽ giúp kiểm soát nợ xấu tốt hơn, đồng thời bảo đảm dòng vốn đi vào những khu vực tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Ổn định hệ thống, tránh “sóng lớn”

Giải ngân đều đặn, ưu tiên cho sản xuất - kinh doanh và các phân khúc bất động sản phục vụ nhu cầu thực sẽ giúp kiểm soát nợ xấu tốt hơn, đồng thời bảo đảm dòng vốn đi vào những khu vực tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Trong cuộc trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán về định hướng điều hành tín dụng năm 2026 như trong Chỉ thị 01/CT-NHNN, TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế nhận định, tác động đến thanh khoản toàn hệ thống có thể nhìn theo các lớp sau:

Thứ nhất, thanh khoản nhìn chung ổn định hơn, không chịu áp lực theo mùa vụ. Việc khống chế tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm là điều cần thiết, giúp tránh kịch bản quen thuộc các năm trước: Tín dụng bung mạnh đầu năm, tạo áp lực hút vốn ngắn hạn, đẩy lãi suất liên ngân hàng và lãi suất huy động tăng sớm. Khi dòng tín dụng được phân bổ đều đặn hơn theo thời gian, nhu cầu vốn của các TCTD cũng bớt dồn cục, qua đó giảm rủi ro căng thẳng thanh khoản cục bộ của mỗi ngân hàng và cả hệ thống trong các quý đầu năm.

Thứ hai, áp lực thanh khoản giảm so với giai đoạn tăng trưởng nóng, nhưng việc thực hiện chính sách tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức 10% là không dễ dàng. Mức tăng trưởng tín dụng dự kiến khoảng 15% cho năm 2026 thấp hơn đáng kể so với mức tăng cụ thể 19,01% và kế hoạch ban đầu là 16% cho năm 2025, phản ánh định hướng thận trọng hơn của NHNN. Thông thường, để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng 10% thì tín dụng cần tăng trưởng khoảng 20%.

“Tôi đồng ý với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% để khống chế sự tăng trưởng tín dụng quá nhanh. Hiện nay, tổng dư nợ của toàn hệ thống so với GDP đã lên đến mức 146% vào cuối năm 2025, nằm trong nhóm cao nhất thế giới và vượt xa ngưỡng an toàn cho các nền kinh tế đang phát triển (thường khoảng 80-120%). Thực trạng này phản ánh sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn ngân hàng, tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank đã từ lâu cảnh báo Việt Nam về mức độ rủi ro hệ thống này”, ông Hiếu nói.

Cũng theo ông Hiếu, mục tiêu tăng trưởng 15% giúp giảm tốc tăng trưởng tín dụng để giảm thiểu rủi ro hệ thống, với điều kiện hệ thống ngân hàng phải bảo đảm dòng vốn tín dụng được nắn vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, thay vì tập trung vào chứng khoán, bất động sản thứ cấp hay hoạt động đầu cơ như vàng, ngoại tệ... Nếu kiểm soát được tín dụng tăng trưởng ở mức 15% và nắn dòng vốn tín dụng vào sản xuất - kinh doanh thì hệ thống ngân hàng vẫn có thể hỗ trợ nền kinh tế một cách hiệu quả nhằm đạt tăng trưởng GDP ở mức 10%, song đây là nhiệm vụ không dễ dàng.

“Tăng trưởng tín dụng ở mức 15% cũng giúp cân đối tốt hơn giữa tăng trưởng tín dụng và khả năng huy động vốn của hệ thống, nhất là trong bối cảnh huy động nói chung và vốn trung - dài hạn nói riêng vẫn tăng chậm hơn cho vay. Một điều cũng cần quan tâm là nếu tăng trưởng kinh tế phục hồi tốt, nhu cầu vốn thực tăng nhanh từ khu vực sản xuất - kinh doanh, áp lực thanh khoản vẫn có thể xuất hiện vào các thời điểm cao điểm, buộc NHNN phải điều tiết linh hoạt qua các kênh OMO”, ông Hiếu cho hay.

Thứ ba, kiểm soát tín dụng bất động sản giúp giảm rủi ro thanh khoản trung - dài hạn. Hiện nay, tỷ lệ cho vay bất động sản trên tổng dư nợ đã lên đến 24% - một mức rủi ro tập trung rất cao. Trung hạn, tỷ lệ này cần phải được kéo xuống khoảng 15% nếu không muốn kéo dài rủi ro mang tính hệ thống này. Trong năm 2026, NHNN yêu cầu tín dụng bất động sản không tăng nhanh hơn mức tăng chung của từng TCTD sẽ hạn chế dòng vốn chảy mạnh vào lĩnh vực có vòng quay vốn dài, tính thanh khoản thấp. Điều này có ý nghĩa tích cực với thanh khoản hệ thống, bởi nó giảm rủi ro “mismatch” kỳ hạn và hạn chế tình trạng vốn ngắn hạn bị khóa trong các khoản vay dài hạn, kém linh hoạt.

Ngoài ra, NHNN có thể chỉ đạo các ngân hàng thương mại hạn chế cho vay mua đất. Tại Mỹ, các ngân hàng thương mại không cho vay mua đất nếu người đi vay không có kế hoạch xây dựng một bất động sản trên đất, mà chỉ có mục đích ôm đất để đầu cơ. Tại Việt Nam, các ngân hàng sẵn sàng nhận đất làm tài sản thế chấp và cho vay trên giá trị đất mà không yêu cầu khách hàng chứng minh kế hoạch xây dựng, sử dụng đất. Việc cho vay trên đất vô hình trung đã giúp hoạt động đầu cơ, “thổi giá” đất và làm tăng giá nhà.

Thứ tư, thanh khoản hệ thống sẽ phân hóa rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng. Các ngân hàng có nền tảng huy động tốt, CASA (vốn huy động từ các tài khoản vãng lai và tiết kiệm không kỳ hạn) cao, quản trị tài sản và nợ phải trả (ALM - Asset and Liability Management) chặt chẽ… sẽ hưởng lợi rõ rệt từ định hướng điều hành này, với thanh khoản ổn định và chi phí vốn được kiểm soát. Ngược lại, những ngân hàng phụ thuộc nhiều vào huy động kỳ hạn ngắn, lãi suất cao và tăng trưởng tín dụng cao vào các lĩnh vực rủi ro và dài hạn sẽ chịu áp lực lớn hơn, đặc biệt khi NHNN siết chặt kỷ luật tăng trưởng ngay từ đầu năm.

Nhìn tổng thể, theo ông Hiếu, định hướng tăng trưởng tín dụng 2026 cho thấy NHNN ưu tiên ổn định thanh khoản và an toàn hệ thống, hơn là chạy theo mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá. Thanh khoản toàn hệ thống được kỳ vọng ổn định hơn, biến động “mềm” hơn, nhưng vẫn đòi hỏi điều hành linh hoạt của NHNN và quản trị thanh khoản chủ động từ phía các TCTD trong bối cảnh môi trường vĩ mô còn nhiều ẩn số. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng ở mức 15% để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế 10% là một thách thức lớn cho NHNN và hệ thống ngân hàng.

“Sự đồng bộ của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa sẽ là tiền đề để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Hồng Dung

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục