Từ thu hút đầu tư đến tạo ra giá trị
Bốn thập kỷ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam gắn liền với thành công trong hội nhập toàn cầu. FDI đã đóng góp vốn, năng lực công nghiệp, việc làm, xuất khẩu, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, đưa Việt Nam trở thành mắt xích ngày càng quan trọng trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (Nghị quyết 19) định hướng cho giai đoạn phát triển tiếp theo là xây dựng nền quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả, đồng thời chuyển từ thu hút năng lực sản xuất sang xây dựng và duy trì năng lực sản xuất trong nước.
Khi hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, câu hỏi không còn đơn thuần là có bao nhiêu vốn đầu tư hay sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam. Điều quan trọng hơn là bao nhiêu công nghệ, tri thức, năng suất, nhân lực kỹ năng, tài sản trí tuệ, năng lực nhà cung cấp và giá trị doanh nghiệp được tạo ra, bám rễ trong nền kinh tế. Vì vậy, giai đoạn tiếp theo không phải rời bỏ “nhà máy FDI”, mà biến nhà máy thành hạt nhân của hệ sinh thái rộng lớn hơn.
Nghị quyết 19 nhìn nhận rằng, tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn, tài nguyên và lao động có chi phí tương đối thấp, đồng thời xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất là những động lực trung tâm của mô hình phát triển mới. Điều này làm thay đổi cách đánh giá hiệu quả kinh tế của chính sách đầu tư.
Trước đây, thu hút dự án sản xuất lớn, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu đã mang lại giá trị kinh tế đáng kể. Ở giai đoạn cao hơn, câu hỏi quan trọng là: điều gì được hình thành và phát triển xung quanh khoản đầu tư đó?
Các nhà cung cấp Việt Nam có tham gia vào những phân khúc có giá trị cao hơn không. Đội ngũ chuyên gia có tích lũy được năng lực chuyên môn tiên tiến không. Hoạt động nghiên cứu có được thực hiện tại Việt Nam không. Các trường đại học và doanh nghiệp có hợp tác với nhau không. Tài sản trí tuệ có được phát triển và thương mại hóa không. Doanh nghiệp trong nước có tham gia vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu không. Sau cùng, doanh nghiệp Việt Nam có thể trở thành chủ sở hữu công nghệ, doanh nghiệp đầu tàu và nhà đầu tư quốc tế hay không.
Nghị quyết 19 đưa ra một định hướng quan trọng khi yêu cầu thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời tăng cường liên kết và hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực kinh tế trong nước.
Một dự án bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, sản xuất tiên tiến hoặc năng lượng có thể được đo lường bằng vốn đăng ký và sản lượng. Tác động phát triển còn thể hiện ở số chuyên gia, nhân lực kỹ thuật được đào tạo; năng lực nhà cung cấp; chương trình nghiên cứu; công nghệ được phát triển hoặc chuyển giao; công nghiệp hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp trong nước với mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Khoản đầu tư trở nên có giá trị hơn khi những năng lực mà nó tạo ra được nhân rộng vượt ra ngoài phạm vi của chính doanh nghiệp nhận đầu tư.
Nội địa hóa năng lực, không chỉ nội địa hóa đầu vào
Thành công của Việt Nam gắn chặt với hội nhập quốc tế và Nghị quyết 19 tiếp tục định hướng đó. Nghị quyết hướng tới việc tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá. Sự cân bằng này là nền tảng.
Tự chủ chiến lược không nhất thiết đồng nghĩa với tự cung tự cấp về kinh tế. Thay vào đó là phát triển đủ năng lực công nghệ, doanh nghiệp và thể chế để tham gia toàn cầu hóa từ vị thế ngày càng có giá trị cao hơn.
Vì vậy, vốn nước ngoài và vốn trong nước không nên được nhìn nhận là những nguồn lực cạnh tranh với nhau, mà là những nguồn lực bổ trợ. Doanh nghiệp đa quốc gia, tư nhân Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước trong trường hợp phù hợp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức tài chính có thể đảm nhiệm các vai trò bổ trợ trong cùng hệ sinh thái. Mục tiêu là kết nối, không phải tách biệt.
Tăng tỷ lệ nội địa hóa có thể củng cố chuỗi cung ứng trong nước. Tuy nhiên, nếu chỉ đo lường mức độ nội địa hóa bằng tỷ lệ đầu vào được mua trong nước, chúng ta có nguy cơ đánh đồng nơi phát sinh chi tiêu với nơi hình thành năng lực kinh tế.
Mục tiêu mang tính chiến lược hơn là nội địa hóa năng lực, tức từng bước phát triển tại Việt Nam các chức năng có giá trị gia tăng cao hơn như kỹ thuật, thiết kế, nghiên cứu và phát triển, sản xuất tiên tiến, năng lực số, quản trị chuỗi cung ứng.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tiếp nhận công nghệ và cạnh tranh quốc tế.
Chuyển giao công nghệ không tự diễn ra chỉ vì có chính sách khuyến khích. Công nghệ phải có nơi để được tiếp nhận, tức phải có các chủ thể trong nước đủ năng lực hấp thụ, làm chủ và phát huy công nghệ.
Vì vậy, cần nhìn nhận các nội dung Nghị quyết 19 một cách tổng thể, bởi chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực trong nước chỉ có thể hiệu quả khi có sự đồng bộ giữa doanh nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, nguồn nhân lực, trường đại học, viện nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ và tài chính.
Chính sách công nghiệp có thể hỗ trợ phát triển các nhà cung cấp. Hoạt động giáo dục và đào tạo do chuyên gia nước ngoài thực hiện góp phần phát triển nguồn nhân lực. Chính sách đổi mới sáng tạo kết nối doanh nghiệp với hoạt động nghiên cứu. Khuôn khổ sở hữu trí tuệ cho phép tri thức trở thành tài sản kinh tế. Thị trường tài chính cung cấp vốn để mở rộng hoạt động. Hạ tầng số, năng lượng và giao thông hỗ trợ năng lực cạnh tranh. Tổng hòa các yếu tố này tạo nên kiến trúc của một hệ sinh thái.
Thước đo thành công tiếp theo
Sự chuyển đổi cũng ảnh hưởng đến cách đánh giá các biện pháp hỗ trợ đầu tư. Vốn cam kết, việc làm, lĩnh vực và địa bàn vẫn là những tiêu chí quan trọng. Theo mô hình mới, tác động phát triển có thể ngày càng trở thành thước đo bổ sung.
Đối với các khoản đầu tư chiến lược, những kết quả đáng quan tâm có thể bao gồm hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) thực chất, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực của nhà cung cấp Việt Nam, chuyển giao công nghệ, tạo lập tài sản trí tuệ, hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, chuyển đổi xanh.
Nguyên tắc rõ ràng là, hỗ trợ đầu tư cần khuyến khích những năng lực mà hoạt động đầu tư tạo ra tại Việt Nam.
Điều này nên được thực hiện bằng định hướng thống nhất, thay vì quá nhiều điều kiện hành chính. Việt Nam tiếp tục cạnh tranh trên trường quốc tế để thu hút các dòng vốn chất lượng cao; do đó, tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường pháp lý, hiệu quả thực thi và việc bảo vệ các lợi ích chính đáng của nhà đầu tư vẫn là những yếu tố thiết yếu.
Các cải cách thể chế theo Nghị quyết 19 cũng là một phần của phương trình kinh tế. Hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch và khả thi; sự chuyển dịch từ cơ chế kiểm soát nặng về tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm thông minh hơn; nền hành chính hiệu quả và việc thực thi nhất quán, có thể dự báo, tất cả đều là những dạng hạ tầng kinh tế.
Việt Nam sẽ tiếp tục cần nguồn vốn quốc tế, công nghệ và quan hệ đối tác ở quy mô lớn để hiện thực hóa mục tiêu trong các ngành dịch vụ chuyên môn, bán dẫn, AI, sản xuất tiên tiến, năng lượng, hạ tầng số và kinh tế xanh.
Khi Việt Nam tiến lên những nấc cao hơn, chất lượng và hiệu ứng số nhân của đầu tư sẽ ngày càng quan trọng bên cạnh quy mô.
Vốn quan trọng, xuất khẩu quan trọng, việc làm quan trọng. Bên cạnh đó, năng suất, công nghệ, tài sản trí tuệ, năng lực kỹ thuật, các nhà cung cấp Việt Nam, năng lực nghiên cứu và các doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Vì vậy, thước đo thành công không chỉ là có bao nhiêu vốn vào Việt Nam, mà còn là dòng vốn đó giúp hình thành những năng lực nào.
Giai đoạn chuyển đổi phát triển trước đây của Việt Nam đã thành công trong việc kết nối đất nước với nguồn vốn, hoạt động sản xuất và thị trường toàn cầu. Giai đoạn tiếp theo có thể làm sâu sắc thêm thành tựu đó bằng cách gắn kết chặt chẽ hơn các nguồn lực toàn cầu với doanh nghiệp, công nghệ, nhân tài và đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
Do đó, quá trình chuyển từ “nhà máy FDI” sang “hệ sinh thái Việt Nam” không phải là sự rút lui khỏi mô hình phát triển đã góp phần làm nên thành công của Việt Nam. Đó chính là giai đoạn tiếp theo của thành công ấy.