Theo TS. Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, muốn hiện thực hóa mục tiêu đưa kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần sớm sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất, hiệu quả hơn.
Khi nhắc đến doanh nghiệp tư nhân, nhiều người thường nghĩ đến các tập đoàn lớn. Theo ông, doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò như thế nào trong phát triển khu vực kinh tế tư nhân?
Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân coi toàn bộ khu vực tư nhân, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) là lực lượng vô cùng quan trọng. Trên nhiều phương diện, đây là lực lượng quan trọng nhất trong giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Nếu không quan tâm, hỗ trợ phát triển SME, thì không thể có khu vực kinh tế tư nhân thực sự mạnh, thực sự là nòng cốt của nền kinh tế. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đặt phát triển kinh tế tư nhân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030.
Không chỉ ở Việt Nam, mà ngay ở các nền kinh tế phát triển, SME cũng thường chiếm 97-99% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường và luôn được xác định là “động lực tăng trưởng”, là “xương sống” của nền kinh tế. Các nước đã phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Singapore, EU và các nước đang phát triển trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ… đều coi trọng vai trò của khu vực SME và đều có luật riêng để hỗ trợ, phát triển khu vực kinh tế này đổi mới sáng tạo, đóng góp ngày càng cao trong nền kinh tế.
Tại Việt Nam, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành năm 2017 và đã đem lại nhiều hiệu ứng tích cực sau 9 năm triển khai. Tuy nhiên, thực tế cũng đòi hỏi Luật phải được điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Việc sửa đổi nhằm tập trung giải quyết những thách thức đối với sự phát triển của SME, ưu tiên các ngành kinh tế chủ lực, thể hiện rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo các nguồn lực tổ chức thực hiện hỗ trợ SME.
| |
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Ảnh: Đức Thanh |
Từ vai trò quan trọng của SME, việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa lần này có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thưa ông?
Quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân và SME đã có sự thay đổi rất lớn kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW và sau đó Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV khẳng định, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhiệm kỳ này là “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”.
Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2026, nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách thể chế, pháp luật đối với công tác phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là hỗ trợ SME. Việc sửa đổi cũng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành, bảo đảm cơ chế hỗ trợ SME thiết thực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Việc sửa đổi lần này còn hướng tới luật hóa các cơ chế, chính sách lớn, có tính ổn định, lâu dài đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết 198/2025/QH15, qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc hỗ trợ SME trong thời gian tới. Đây là lần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hỗ trợ SME theo hướng đồng bộ, hiệu quả, minh bạch, khả thi, đảm bảo thống nhất trong tổ chức thực hiện; qua đó thúc đẩy khu vực kinh doanh này phát triển nhanh, bền vững, tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng và hiệu quả hoạt động, tạo chuyển biến rõ rệt về năng lực cạnh tranh và đóng góp cho nền kinh tế.
Nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế 2 con số hết sức nặng nề, trong đó vai trò của SME rất quan trọng. Vì vậy, cần sớm sửa luật để nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả hoạt động. Đồng thời, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và quy mô doanh nghiệp; tăng cường khả năng tham gia vào chuỗi giá trị, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, từ đó nâng cao mức độ đóng góp của khu vực SME vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và phát triển bền vững.
Việc hỗ trợ tiếp cận tín dụng đã được đặt ra trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng là một trong những điều được SME mong mỏi nhất. Nhưng qua 9 năm triển khai Luật, vì sao bài toán tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp vẫn chưa được giải quyết?
Theo báo cáo của hệ thống ngân hàng, dư nợ tín dụng đối với SME tăng đều qua các năm, từ trên 2,4 triệu tỷ đồng năm 2022 (tăng hơn 13% so với năm 2021) lên trên 3,65 triệu tỷ đồng vào cuối năm 2025, (tăng 21,73% so với tháng 12/2024), chiếm khoảng 20% dư nợ toàn nền kinh tế. Trong khi số lượng SME chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp, thì dư nợ tín dụng dành cho khu vực này chỉ chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế, cho thấy sự mất cân xứng.
Tại Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” vừa được Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) tổ chức, thay mặt cộng động SME Việt Nam, tôi đã thẳng thắn phát biểu rằng, dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo phải tạo điều kiện cho SME tiếp cận vốn tín dụng, nhưng trên thực tế, SME vẫn phải dựa vào chính mình, nếu không có tài sản thế chấp, tài sản bảo đảm... thì đừng có mơ vay được vốn. Vốn rẻ rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là nguồn vốn phải đủ, kịp thời, giảm thiểu thời gian, chi phí khi tiếp cận nguồn vốn.
Với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm trên thị trường, có uy tín, có thương hiệu, ngoài kênh ngân hàng, có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, các quỹ đầu tư... Nhưng với SME, nhất là những doanh nghiệp mới thành lập, chưa có thương hiệu, chưa khẳng định được uy tín, thì vốn ngân hàng gần như là nguồn duy nhất, bên cạnh vốn tự có và vốn huy động từ bên ngoài. Vì thế, một khi thiếu vốn, chắc chắn doanh nghiệp không thể và không có cách gì phát triển được.
Ngoài tín dụng ngân hàng, SME còn được hỗ trợ qua Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, hiệu quả của các quỹ này dường như chưa như kỳ vọng?
Đúng vậy. Trước khi thực hiện sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp, cả nước có tổng cộng 26 Quỹ Bảo lãnh tín dụng, trong giai đoạn 2018-2024 chỉ có 229 SME được cấp bảo lãnh tín dụng với tổng số tiền khoảng 874 tỷ đồng. Với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo báo cáo, lũy kế đến hết năm 2025, đã chấp thuận cho vay khoảng 1.554 tỷ đồng, tổng vốn giải ngân 1.194 tỷ đồng.
Có thể khẳng định, nhóm chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng đã được triển khai, bám sát chủ trương ưu tiên hỗ trợ SME. Tuy nhiên, hiệu quả bị giới hạn bởi năng lực tài chính, quản trị của doanh nghiệp và bởi việc thiết kế các công cụ chia sẻ rủi ro chưa thực sự hấp dẫn, chưa tạo được động lực đủ mạnh để khu vực ngân hàng mở rộng hơn nữa tín dụng đối với khu vực SME.
Chính vì vậy, chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét giải thể 2 quỹ trên khi sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do hoạt động không hiệu quả, tập trung nguồn lực thành lập định chế tài chính khác hỗ trợ SME hiệu quả hơn, thiết thực hơn.
Theo báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có tới 93,5% khoản vay của doanh nghiệp bắt buộc phải có tài sản bảo đảm, thế chấp. Theo ông, cần thay đổi gì để SME có thể vay vốn dựa trên năng lực và triển vọng kinh doanh, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp?
Đây là rào cản lớn nhất khiến SME không thể tiếp cận vốn ngân hàng. Đáng suy nghĩ là, tỷ lệ 93,5% khoản vay phải có tài sản bảo đảm của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với mức bình quân trên thế giới là 60%; Malaysia và Thái Lan chỉ có 33,4% và 56%.
Để giải quyết vấn đề này, tại Hội nghị gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề: “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì hôm 18/7/2026, thay mặt cộng đồng SME, tôi đã kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ khuyến khích phát triển các định chế xếp hạng tín nhiệm độc lập đối với SME dựa trên những điều kiện, tiêu chí nhất định. Các tổ chức tín dụng có thể dựa vào định mức tín nhiệm của từng doanh nghiệp để cho vay, thay vì chỉ nhìn vào tài sản thế chấp, tài sản bảo đảm.
Chúng tôi cũng kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luật hóa vào Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa loại hình “doanh nghiệp một người” - mô hình doanh nghiệp hoạt động dựa vào AI, công nghệ thông tin đang phát triển rất mạnh ở nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, đưa hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 3 tỷ đồng/năm trở lên vào đối tượng điều chỉnh; mở rộng ưu đãi miễn thuế 3 năm và giảm 50% số thuế phải nộp 3 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp một người, doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ gia đình, cá nhân kinh doanh.
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi đang được Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện để trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp tới với rất nhiều điểm đột phá. Tôi cho rằng, nếu nghiên cứu bổ sung các kiến nghị trên, thì mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vào năm 2030 không phải không thực hiện được.