Châu Á và Thái Bình Dương đang bước vào một trong những giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất trong lịch sử. Dân số của khu vực đang già hóa với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các quốc gia công nghiệp hóa cao đi trước. Đến năm 2050, hơn một phần tư dân số khu vực sẽ từ 65 tuổi trở lên.
Những gì châu Âu và Nhật Bản mất hàng thập kỷ để trải nghiệm giờ đây đang diễn ra nhanh hơn nhiều tại các quốc gia như Thái Lan, Mông Cổ và cả Việt Nam...
Tỷ suất sinh đã giảm xuống dưới mức thay thế, tuổi thọ tiếp tục gia tăng, trong khi các hệ thống chăm sóc truyền thống dựa vào gia đình đang suy yếu dưới áp lực của đô thị hóa, di cư và những thay đổi trong chuẩn mực xã hội.
Con người sống thọ hơn bao giờ hết, nhưng không phải lúc nào cũng có sức khỏe tốt. Tỷ lệ mắc bệnh mạn tính, sa sút trí tuệ và suy giảm chức năng đang gia tăng, tạo ra những nhu cầu mới về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội.
Trong khi đó, nguồn cung dịch vụ, kinh phí và nguồn nhân lực có kỹ năng vẫn chưa theo kịp nhu cầu. Nếu không có cải cách, người dân ở nhiều quốc gia sẽ phải đối mặt với nguy cơ chi phí y tế tự chi trả cao hơn, bất bình đẳng gia tăng và nhu cầu chăm sóc không được đáp ứng, đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thương nhất.
Chăm sóc dài hạn đang nổi lên như một trụ cột quan trọng của phát triển bền vững trong khu vực. Các hệ thống được thiết kế tốt không chỉ bảo vệ người cao tuổi mà còn giảm gánh nặng cho gia đình, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động, và giảm áp lực cho các hệ thống y tế vốn đã quá tải thông qua việc ngăn ngừa nhập viện và chăm sóc tập trung không cần thiết.
Trong các xã hội già hóa nhanh, chăm sóc dài hạn không phải là một chương trình phúc lợi xã hội thứ yếu mà là một ưu tiên về tài khóa, kinh tế, phát triển và hệ thống y tế.
Các quốc gia đang phát triển ở châu Á và Thái Bình Dương đang đáp ứng bằng các chính sách và chương trình thí điểm đổi mới, dựa trên các khuôn khổ toàn cầu để hướng dẫn thiết kế hệ thống.
Thái Lan đã xây dựng một trong những mạng lưới chăm sóc cộng đồng lớn nhất khu vực, với hơn 1.000 trung tâm và 1,3 triệu tình nguyện viên cung cấp dịch vụ thăm khám tại nhà, kiểm tra sức khỏe và giới thiệu dịch vụ. Tại các khu vực thí điểm, số ca nhập viện của người cao tuổi yếu ớt đã giảm 15%, cho thấy giá trị của mô hình này như một tuyến chăm sóc ban đầu.
Uzbekistan thành lập cơ quan quốc gia mới về bảo trợ xã hội vào năm 2023 và bắt đầu mở các trung tâm trên toàn quốc. Các trung tâm này cung cấp hơn 100 loại hình dịch vụ, từ chăm sóc tại nhà, phục hồi chức năng đến trợ lý cá nhân và trung tâm sinh hoạt ban ngày.
Mông Cổ triển khai các chương trình thí điểm chăm sóc dài hạn tại các thành phố lớn. Các chương trình này đã đưa vào áp dụng các quy trình quản lý ca bệnh quốc gia, các mô-đun đào tạo người chăm sóc và các công cụ giám sát số nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình, đây là nỗ lực có hệ thống đầu tiên của quốc gia nhằm xây dựng một mô hình có thể mở rộng và dựa trên bằng chứng.
Việt Nam đã phát triển mạng lưới người chăm sóc với các tình nguyện viên được đào tạo, cung cấp dịch vụ chăm sóc hằng ngày, đồng hành và hỗ trợ xã hội. Các câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau dành cho người cao tuổi, đặc biệt tại khu vực nông thôn, thúc đẩy lối sống năng dộng khi về già, ngăn ngừa cô lập xã hội và hỗ trợ phát hiện sớm các nguy cơ về sức khỏe. Những sáng kiến này đã góp phần thu hẹp khoảng trống dịch vụ tại các khu vực còn thiếu thốn và cho thấy vai trò trung tâm của cộng đồng trong chăm sóc người cao tuổi.
Sri Lanka vận hành các trung tâm sinh hoạt ban ngày cung cấp hỗ trợ cho người mắc chứng mất trí nhớ, phòng ngừa té ngã và các hoạt động giải trí nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh khi về già và giảm gánh nặng bệnh tật. Các kết quả ban đầu cho thấy sự tham gia của người cao tuổi tăng lên và số ca nhập viện có thể tránh được giảm xuống, cho thấy tiềm năng nhân rộng như những mô hình chăm sóc cộng đồng hiệu quả về chi phí.
Tại một số khu vực được lựa chọn, Indonesia đã bắt đầu cung cấp chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi khỏe mạnh, có nguy cơ và phụ thuộc. Nền tảng số SILANI đang trở thành “xương sống” kỹ thuật số cho việc mở rộng chăm sóc dài hạn trên toàn quốc. Nền tảng này giúp xác định các hộ gia đình dễ bị tổn thương để hỗ trợ có mục tiêu, tạo bằng chứng cho cải cách tài chính, liên kết bảo hiểm y tế với các dịch vụ xã hội và giảm trùng lặp.
Ngay cả khi các sáng kiến đổi mới này đang xuất hiện trên khắp khu vực, các quốc gia vẫn phải đối mặt với thách thức khi những thay đổi vốn diễn ra từ từ tại châu Âu và Nhật Bản nay chỉ diễn ra trong một hoặc hai thập kỷ tại các nước như Thái Lan, Việt Nam và Mông Cổ. Thời gian bị rút ngắn này tạo áp lực lớn buộc chính phủ, hệ thống y tế và các khuôn khổ an sinh xã hội phải thích ứng nhanh hơn nhiều so với các xã hội già hóa dan số sớm hơn.
Đồng thời, điều này cũng mở ra cơ hội để các quốc gia bỏ qua các lộ trình phát triển truyền thống. bằng cách rút ra bài học từ những quốc gia đã trải qua quá trình chuyển đổi tương tự, giúp các chính phủ có thể tránh được những sai lầm phổ biến và nhanh chóng áp dụng các cách tiếp cận đổi mới. Các quốc gia cần tăng cường hợp tác và chia sẻ tri thức với nhau để nhanh chóng thiết kế và triển khai các mô hình chăm sóc dài hạn bền vững.
Để hỗ trợ nỗ lực hợp tác này, các quốc gia và đối tác phát triển cần phối hợp nhằm tăng cường các cơ chế chia sẻ tri thức trong khu vực. Các hoạt động bao gồm đồng tổ chức các sự kiện và hội thảo trực tuyến, thành lập các nhóm công tác theo chủ đề, thúc đẩy nghiên cứu và nghiên cứu điển hình chung, cũng như vận động đưa chăm sóc dài hạn trở thành một phần cốt lõi của bảo hiểm y tế toàn dân.