Gánh nặng chi phí của những ngành thâm dụng vốn

(ĐTCK) Lãi suất cho vay bình quân vượt 10%/năm ở nhiều ngân hàng đang tác động rõ rệt tới những doanh nghiệp có quy mô nợ vay lớn.

Dù lãi suất huy động niêm yết tại nhiều nhà băng phổ biến ở mức 6 - 7%/năm đối với kỳ hạn từ 6 - 12 tháng, nhiều tổ chức tín dụng vẫn có chương trình ưu đãi riêng cho khách hàng, đưa lãi suất thực nhận lên tới 9%/năm, thậm chí trên 10%/năm.

Chi phí đầu vào gia tăng nhanh chóng phản ánh lên mặt bằng lãi suất cho vay. Ngân hàng Nhà nước thông tin, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 6 đã tăng khoảng 0,4%/năm so với tháng trước đó - là giai đoạn các ngân hàng điều chỉnh lãi suất mạnh nhất trong một năm qua.

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Trần Văn Tánh, Trưởng phòng Phân tích Khối Khách hàng tổ chức, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, dù lãi suất trên thị trường 2 đã có dấu hiệu hạ nhiệt, thị trường 1 vẫn duy trì áp lực cạnh tranh lớn khi tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn.

Trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn duy trì mặt bằng lãi suất cao, cùng với áp lực tỷ giá và rủi ro lạm phát từ giá dầu neo cao, dư địa giảm thêm lãi suất tại Việt Nam không còn nhiều. Kịch bản có khả năng xảy ra nhất trong những tháng cuối năm là mặt bằng lãi suất đi ngang hoặc tăng nhẹ, thay vì quay trở lại xu hướng giảm.

Kết quả điều tra xu hướng sản xuất, kinh doanh quý II/2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, thực hiện trên gần 11.900 doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng cũng cho thấy, 28,4% doanh nghiệp đánh giá lãi suất vay vốn cao là một trong những khó khăn trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, tăng 0,9 điểm phần trăm so với quý trước.

Áp lực này thể hiện rõ hơn ở các ngành thâm dụng vốn như chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ (38% doanh nghiệp phản ánh), dệt may (37,3% doanh nghiệp phản ánh) và sản xuất kim loại (36,8%). Đáng chú ý, có tới 43,4% doanh nghiệp kiến nghị các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhằm giảm chi phí vốn và tạo điều kiện mở rộng sản xuất.

Trong quý I, khi lãi suất có xu hướng đi lên, các tập đoàn kinh tế lớn như Vingroup ghi nhận chi phí lãi vay 7.522 tỷ đồng, Vinhomes ghi nhận 2.561 tỷ đồng chi phí lãi vay, Hòa Phát ghi nhận 1.333 tỷ đồng, Tập đoàn Masan ghi nhận hơn 1.200 tỷ đồng lãi vay…

Trong quý I, khi lãi suất có xu hướng đi lên, các tập đoàn kinh tế lớn như Vingroup ghi nhận chi phí lãi vay 7.522 tỷ đồng, Vinhomes ghi nhận 2.561 tỷ đồng chi phí lãi vay...

Theo ông Tánh, lãi suất cao sẽ ảnh hưởng đến hầu hết doanh nghiệp, song mức độ tác động sẽ khác nhau. Những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính lớn hoặc có tỷ trọng nợ vay cao sẽ chịu áp lực rõ rệt hơn khi các khoản vay được tái định giá ở mặt bằng lãi suất mới. Trong khi đó, các ngân hàng cũng đối mặt với bài toán cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng, bảo vệ biên lãi ròng (NIM) và kiểm soát chất lượng tài sản.

Đối với lĩnh vực bất động sản, chuyên gia Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, đây tiếp tục là nhóm chịu ảnh hưởng lớn khi vừa đối mặt với chi phí vốn tăng, vừa gặp khó khăn về thanh khoản thị trường. Tuy nhiên, tín dụng sẽ không bị siết đồng loạt mà tiếp tục ưu tiên các lĩnh vực như đầu tư công, bất động sản công nghiệp và nhà ở xã hội, trong khi dòng vốn vào các dự án mang tính đầu cơ sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Ở phía cầu, chi phí vay mua nhà cũng đang gia tăng. Theo SSI Research, lãi suất ưu đãi vay mua nhà cố định trong 12 tháng hiện đã tăng lên 8,5 - 10%/năm, từ mức 6,5 - 8,2%/năm trước đó, trong khi lãi suất vay theo cơ chế thả nổi phổ biến ở mức từ 11 - 15%/năm. Diễn biến này đang trở thành lực cản đối với nhu cầu mua nhà trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.

Dù vậy, theo ông Tánh, khả năng mặt bằng lãi suất tăng mạnh trở lại là không cao. Nếu các yếu tố vĩ mô quốc tế dần ổn định, đặc biệt là áp lực tỷ giá và chính sách tiền tệ toàn cầu bớt thắt chặt, chi phí vốn có thể cải thiện từ cuối năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, sự phân hóa sẽ ngày càng rõ nét giữa các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc mở rộng đầu tư và cơ cấu nguồn vốn, trong khi các doanh nghiệp sở hữu bảng cân đối tài chính lành mạnh, dòng tiền ổn định và ít phụ thuộc vào vốn vay sẽ có lợi thế hơn.

Kiều Trang

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục