Phát triển hệ sinh thái dịch vụ, trải nghiệm đa dạng là một trong những giải pháp nâng năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam (Ảnh: P.V)
Nhận diện “điểm nghẽn” để tái cấu trúc du lịch Việt Nam
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số đến năm 2030 và trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, ngành du lịch được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Sau gần một thập niên thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, du lịch Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch Covid-19 với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế năm 2025, tổng thu vượt 1 triệu tỷ đồng. Dẫu vậy, tăng trưởng vẫn thiếu bền vững, mức chi tiêu và thời gian lưu trú của khách quốc tế còn hạn chế, sức cạnh tranh sản phẩm và năng lực quản trị điểm đến chưa tương xứng với tiềm năng.
Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch hiện đang khẩn trương xây dựng Đề án tổng kết Nghị quyết 08-NQ/TW, từ đó đề xuất Bộ Chính trị ban hành một nghị quyết mới, tạo hành lang pháp lý vững chắc để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
- Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong
Tại Tọa đàm khoa học góp ý Dự thảo Đề án Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong nhấn mạnh: “Du lịch được xác định là ngành kinh tế trọng điểm, đóng góp then chốt cho tăng trưởng đất nước trong giai đoạn mới”. Theo ông, sau 9 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngành du lịch đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, song bối cảnh mới đòi hỏi tư duy phát triển đột phá hơn.
“Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện đang khẩn trương xây dựng Đề án tổng kết Nghị quyết 08-NQ/TW, từ đó đề xuất Bộ Chính trị ban hành một nghị quyết mới, tạo hành lang pháp lý vững chắc để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, Thứ trưởng Hồ An Phong cho biết, đồng thời nhấn mạnh tiếng nói từ thực tiễn địa phương, điểm đến và doanh nghiệp là yếu tố “sống còn” đối với chất lượng của Đề án.
Ở góc độ xây dựng chính sách, TS. Hà Văn Siêu, Phó cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho hay, Dự thảo Đề án tập trung nhận diện những điểm nghẽn của ngành để đề xuất giải pháp đột phá trong giai đoạn mới. Theo ông, Đề án hướng tới phát triển du lịch chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng cao, lấy giá trị gia tăng và tính bền vững làm trọng tâm, gắn với phát triển văn hóa, con người, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Dự thảo hiện xác định 8 nhóm giải pháp trọng tâm, gồm: hoàn thiện thể chế; phát triển hạ tầng; cơ cấu lại thị trường và sản phẩm; nâng tầm thương hiệu; phát triển nguồn nhân lực; thúc đẩy ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo; và nâng cao chất lượng điểm đến xanh, thông minh, bền vững.
Vấn đề của du lịch Việt Nam hiện nay không nằm ở thiếu tài nguyên hay thiếu thị trường, mà ở khả năng chuyển hóa lợi thế thành giá trị gia tăng cao hơn. Khi cạnh tranh điểm đến trong khu vực ngày càng gay gắt, một ngành du lịch dựa nhiều vào khai thác cảnh quan đơn thuần sẽ khó tạo đột phá nếu thiếu hệ sinh thái sản phẩm đủ sâu, cơ chế đủ mở và nguồn nhân lực đủ sức kể câu chuyện văn hóa Việt Nam bằng trải nghiệm.
![]() |
Du lịch phải vượt khỏi tư duy “bán cảnh”
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang Nguyễn Trung Ngọc đánh giá, Dự thảo Đề án được xây dựng công phu, có quy mô và chiều sâu, song từ thực tiễn địa phương vẫn cần tiếp tục bổ sung một số nội dung để tạo hiệu quả rõ nét hơn trong giai đoạn tới. Theo ông, chuyển từ tăng trưởng số lượng sang nâng cao chất lượng là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển mới của ngành du lịch. Việt Nam có thể đón hàng chục triệu lượt khách quốc tế, nhưng mức chi tiêu vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Dẫn kinh nghiệm từ nhiều quốc gia, ông cho rằng: “Nguồn thu lớn của du lịch đến từ mua sắm và tiêu dùng, vì vậy cần phát triển các sản phẩm đủ sức kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng trải nghiệm và kích thích chi tiêu của du khách”.
Ở góc độ địa phương giàu kinh nghiệm phát triển du lịch, bà Nguyễn Thùy Yên, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh cho rằng, sản phẩm du lịch là sự tổng hòa của nhiều loại hình dịch vụ và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ với công thương, nông nghiệp, vận tải, y tế và văn hóa. Theo bà, điều kiện tiên quyết để tạo ra sản phẩm chất lượng là phải có quy hoạch bài bản và cơ chế chính sách phù hợp nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các sản phẩm mới, gia tăng trải nghiệm, kích thích chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú. Trong giai đoạn hiện nay, bà Nguyễn Thùy Yên đề xuất ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch có hàm lượng văn hóa cao, gắn với công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo để tạo dấu ấn riêng cho điểm đến Việt Nam.
Đối với du lịch đêm, bà cho rằng, nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn do vướng mắc về thời gian hoạt động và tổ chức các hoạt động văn hóa sau 22 giờ. “Cần sớm có cơ chế, chính sách phù hợp để tháo gỡ, tạo điều kiện phát triển các sản phẩm du lịch đêm”, bà Nguyễn Thùy Yên kiến nghị.
Bên cạnh sản phẩm, nguồn nhân lực tiếp tục được xác định là một trong những điểm nghẽn lớn nhất của ngành. “Dù sở hữu hạ tầng hiện đại hay cảnh quan đặc sắc nhưng nếu người làm du lịch không truyền tải được giá trị văn hóa, trải nghiệm thì du lịch chỉ dừng ở việc “bán cảnh” chứ chưa thể “bán trải nghiệm”, bà Nguyễn Thùy Yên chia sẻ. Theo bà, năng suất lao động, kỹ năng mềm và trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, trong khi đại dịch COVID-19 từng làm đứt gãy đáng kể nguồn nhân lực du lịch. Vì vậy, cần bổ sung quan điểm phát triển: “Lấy văn hóa làm nền tảng, di sản làm nguồn lực cạnh tranh” gắn với “Con người là trung tâm và động lực”.
Một “đường băng” mới cho năng lực cạnh tranh quốc gia
Nếu địa phương quan tâm đến sản phẩm và trải nghiệm, doanh nghiệp lại nhìn thấy những rào cản ở xúc tiến thị trường và chính sách visa. Đại diện Công ty cổ phần Hàng không VietJet cho rằng, công tác quảng bá du lịch Việt Nam vẫn chưa được định vị rõ nét tại các thị trường trọng điểm, còn dàn trải và thiếu chiều sâu.
Theo VietJet, cần đổi mới cách làm theo hướng tập trung, xác định rõ nhóm khách hàng mục tiêu để tạo dấu ấn mạnh mẽ hơn cho thương hiệu du lịch Việt Nam. Đồng thời, cần nghiên cứu mở rộng thời hạn visa nhiều lần cho nhóm khách có nhu cầu thường xuyên như doanh nhân Ấn Độ. Thời hạn một tháng hiện nay có thể được kéo dài lên 6 tháng hoặc một năm nhằm tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh, đầu tư và du lịch.
Trong khi đó, ông Lê Trương Hiền Hòa, Phó giám đốc Sở Du lịch TP.HCM đề xuất cần xác lập rõ hơn vị thế của Việt Nam trên bản đồ du lịch châu Á trong mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045; đồng thời tăng cường xúc tiến, mở rộng văn phòng đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài và xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch đủ năng lực để hỗ trợ thực chất cho quảng bá.
Dự thảo Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp trực tiếp từ 10% GDP trở lên, từng bước đạt khoảng 14% GDP; đón 45 đến 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ khoảng 160 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu khoảng 130 tỷ USD. Thứ trưởng Hồ An Phong khẳng định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp để hoàn thiện Dự thảo Đề án trong thời gian tới.
Sau gần một thập niên thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, du lịch Việt Nam đã bước qua giai đoạn phục hồi và đứng trước yêu cầu tăng trưởng bằng chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh. Một “đường băng mới” vì thế không đơn thuần là câu chuyện hạ tầng hay chính sách, mà là khả năng kiến tạo một hệ sinh thái đủ mạnh để du lịch Việt Nam chuyển từ lợi thế tiềm năng sang lợi thế thật sự. Khi đó, mỗi hành trình của du khách sẽ tạo ra doanh thu, đồng thời góp phần nâng vị thế Việt Nam trên bản đồ kinh tế và văn hóa toàn cầu.
