Nhìn vào những kết quả đạt được trong 8 tháng đầu năm và triển vọng những tháng cuối năm, ông đánh giá thế nào về động lực tăng trưởng của nền kinh tế? Những động lực nào sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong thời gian tới?
Trong thời đại khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), để phát triển nhanh và bền vững, phải lựa chọn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI là động lực tăng trưởng chính. Tuy nhiên, đầu tư vào những lĩnh vực này không thể có kết quả ngay, mà cần thời gian 3-5 năm, 5-7 năm, thậm chí là lâu hơn và phải dần từng bước.
Vì vậy, tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới vẫn phải dựa vào các động lực truyền thống, nhưng tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng của các động lực truyền thống trong GDP giảm dần, thay vào đó là các động lực mới là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI.
Hoạt động của nền kinh tế trong 8 tháng đầu năm 2026 rất khả quan. Từ nay đến cuối năm, nếu không có bất thường xảy ra, thì với đà tăng trưởng này, cộng với quy luật của nền kinh tế Việt Nam là quý sau hầu như tăng cao hơn quý trước, năm nay tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta sẽ lập kỷ lục kể từ khi Đổi mới.
Cụ thể, trong 8 tháng, hoạt động sản xuất nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản dần vượt qua các kỷ lục trước đó; xuất khẩu hàng hóa nói chung với 374,84 tỷ USD kim ngạch, tăng 22,4% đã lập đỉnh; thị trường nội địa đã tăng trưởng cao hơn so với thời kỳ trước đại dịch Covid-19. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất của 8 tháng trong 5 năm qua.
Số doanh nghiệp tham gia thị trường (đăng ký thành lập mới, tái gia nhập trừ đi số rút lui, tạm rút lui khỏi thị trường) trong 8 tháng tăng khoảng 49.000 đơn vị, cho thấy lòng tin của cộng đồng doanh nghiệp trong nước vào cơ chế, chính sách. Cùng với đó, khoảng 12,21 tỷ USD vốn FDI tăng thêm của 820 lượt dự án FDI, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2025, đã minh chứng lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài vào sự ổn định hiện tại và tương lai xán lạn của nền kinh tế Việt Nam.
| |
Hoạt động quản lý thuế được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước. Ảnh: Đức Thanh |
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số đóng góp khoảng 30% GDP. Theo ông, cần làm gì để chuyển dịch từ các động lực truyền thống sang những động lực tăng trưởng mới?
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ trước đến nay cũng như 8 tháng đầu năm 2026 đều dựa chủ yếu vào các động lực truyền thống. Ngay cả năm nay cũng vậy, trong tổng GDP, mục tiêu đặt ra là tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số (khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, AI...) mới chiếm khoảng 14%, còn lại do các động lực truyền thống đem lại.
Để bảo đảm tăng trưởng cao trong ngắn hạn và lâu dài, một mặt cần tập trung đầu tư vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI, mặt khác phải khai thác tối đa, phát huy cao nhất hiệu quả của các động lực truyền thống. Quan điểm của Đảng trong Nghị quyết 19-NQ-TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI là động lực chính; nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia làm trung tâm.
Nhìn vào kết quả tăng trưởng, một vấn đề quan trọng được đặt ra là hiệu quả của nền kinh tế. Theo ông, đâu là những chỉ dấu đáng chú ý để đánh giá hiệu quả tăng trưởng hiện nay?
Thu ngân sách nhà nước là hiệu quả cuối cùng, là thước đo của nền kinh tế. Trong 8 tháng đầu năm nay, thu ngân sách đã đạt 80% dự toán và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước chiếm 86,6% tổng thu ngân sách, đạt gần 80% dự toán và tăng 16,6% so với cùng kỳ.
Nhờ tăng thu ngân sách, Nhà nước có điều kiện tăng chi (tăng 13,3%) đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, an sinh xã hội và thanh toán các khoản nợ đến hạn, góp phần bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, tạo điều kiện để cả kinh tế lẫn xã hội phát triển vững chắc. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề để nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của nhân dân. Đây là mục tiêu xuyên suốt, là quan điểm của Đảng được đặt ra tại Nghị quyết 19-NQ/TW.
Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng trong 8 tháng đầu năm, nhưng Nghị quyết 10-NQ/TW đặt yêu cầu cao hơn về chất lượng dòng vốn. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để thu hút được những dự án FDI có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn?
Tổng vốn đầu tư nước ngoài, cả vốn FDI lẫn vốn đầu tư gián tiếp (góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) đã tăng liên tục từ mức 16,78 tỷ USD năm 2022 lên 20,54 tỷ USD năm 2024 và 8 tháng đầu năm nay là 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Nghị quyết 10-NQ/TW coi khu vực FDI không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường. Quan điểm của Nghị quyết 10-NQ/TW trong thu hút vốn FDI là lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu.
Có thể nói, cho đến nay, Việt Nam khá thành công trong thu hút FDI về số vốn và số dự án, nhưng chất lượng chưa cao. Bằng chứng là việc chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp FDI, hàm lượng giá trị gia tăng tạo ra ở Việt Nam, doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng cho doanh nghiệp FDI... còn hạn chế.
Để giải quyết thực trạng trên, Nghị quyết 10-NQ/TW đã đặt ra vấn đề hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược; chuyển từ xúc tiến đầu tư dàn trải sang tiếp cận, vận động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược; xây dựng cơ sở dữ liệu nhà đầu tư chiến lược, đối tác chiến lược, tập đoàn hàng đầu, định chế tài chính, quỹ đầu tư lớn, trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng.
Đây là chiến lược thông minh trong thu hút nhà đầu tư FDI chiến lược, nhưng theo tôi, muốn khu vực FDI chuyển giao công nghệ, tăng hàm lượng nội địa hóa, gia tăng giá trị sản xuất tại Việt Nam, liên kết với doanh nghiệp nội địa, bên cạnh việc tìm cách lôi kéo nhà đầu tư chiến lược, cũng nên quay về phương thức thu hút FDI “cổ điển” đã bị “thất truyền”. Đó là gia tăng các công ty liên doanh thay vì chỉ có doanh nghiệp 100% vốn FDI.
Những năm đầu mở cửa, Việt Nam từng có nhiều công ty liên doanh với nước ngoài, nhưng sau đó dần trở thành doanh nghiệp 100% vốn FDI? Vì sao ông cho rằng, Việt Nam nên quay lại mô hình liên doanh để tăng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Bài học từ những liên doanh trong giai đoạn đầu mở cửa là gì?
Thời kỳ đầu mở cửa, Việt Nam cũng có nhiều doanh nghiệp liên doanh, sau một thời gian hoạt động, hầu hết các công ty liên doanh thua lỗ nhưng tiếp tục tăng vốn đầu tư. Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa không đáp ứng được, đành phải bán hết vốn và công ty liên doanh trở thành doanh nghiệp 100% vốn FDI.
Ngày đó, chúng ta thất bại bởi vốn liếng của doanh nghiệp nội địa quá nhỏ, chưa có kinh nghiệm trong làm ăn với nước ngoài, chưa có kinh nghiệm trong đàm phán, hơn nữa do nền kinh tế rất khó khăn, thiếu đủ thứ, đặc biệt là vốn, nên dễ dàng chấp thuận yêu cầu của phía đối tác. Sau 40 năm phát triển, vị thế nền kinh tế Việt Nam đã khác xưa rất nhiều, doanh nghiệp nội địa đã trưởng thành cả về quy mô vốn, công nghệ quản lý lẫn kinh nghiệm thương trường, vì thế mở rộng kênh liên doanh với doanh nghiệp FDI không còn sợ bị “cụt hết vốn liếng” như cách đây 30-40 năm.
Nếu không mở rộng kênh liên doanh, thì dù có thu hút được doanh nghiệp FDI lớn vào đầu tư, họ cũng kéo các doanh nghiệp nhỏ ở “chính quốc” vào đầu tư cùng để cung cấp thiết bị, chi tiết, bộ phận, phụ tùng, nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp lớn. Khi đó, mục tiêu chuyển giao công nghệ, gia tăng tỷ trọng nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu khó có thể đạt mục tiêu đặt ra, dù vốn FDI giải ngân có đạt 30-40 tỷ USD mỗi năm.