Nguyên liệu và vận tải đồng loạt tăng giá
“Gần như toàn bộ các nhà cung cấp, từ trong nước đến quốc tế, đều gửi thông báo điều chỉnh giá theo hướng tăng. Có những mặt hàng trong nước tăng khoảng 10%, nhiều loại tăng 20-30%, thậm chí một số nguyên liệu như nhựa được báo tăng tới 55%” - lãnh đạo Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Mebipha chia sẻ về khó khăn mà Công ty đang đối mặt trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tiếp tục leo thang.
Phần lớn các mặt hàng tăng giá đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiên liệu và vận tải - hai yếu tố đang chịu tác động mạnh từ những bất ổn trên các tuyến hàng hải quốc tế. Ngoài ra, khi rủi ro vận chuyển hàng hóa tăng lên thì phí bảo hiểm cũng tăng theo, khiến tổng chi phí đầu vào của doanh nghiệp tiếp tục bị đội lên.
Không chỉ chi phí nguyên liệu, hoạt động logistics cũng đang trở thành một áp lực lớn đối với nhiều doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu. Theo bà Lâm Thúy Ái, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Mebipha, chi phí vận tải quốc tế và vận tải trong nước của doanh nghiệp tăng trung bình 18-25% so với trước đây. Một số đơn vị vận tải trong nước đã gửi thông báo điều chỉnh giá, với mức đề xuất tăng khoảng 10-15% dưới dạng “phí chia sẻ”.
Áp lực chi phí do biến động logistics và năng lượng cũng đang lan rộng sang nhiều ngành xuất khẩu chủ lực khác của Việt Nam. Với ngành dệt may - lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD mỗi năm, tác động của biến động chi phí đang thể hiện rõ ở cả hai khâu: nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm.
Bà Nguyễn Trần Thiên Thanh, Giám đốc Công ty TNHH Thiên Thanh Bình cho biết, đặc thù của ngành dệt may là phụ thuộc khá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Vì vậy, khi chi phí vận tải quốc tế tăng lên, chi phí đưa nguyên liệu về Việt Nam cũng tăng theo.
Bên cạnh đó, nhiều nguyên liệu trong ngành dệt may có nguồn gốc từ dầu mỏ như sợi polyester, vải tổng hợp, chỉ may, bao bì… nên khi giá dầu và chi phí vận chuyển tăng lên, giá các nguyên liệu này cũng nhanh chóng điều chỉnh.
“Trong ngành may mặc, chi phí nguyên phụ liệu chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá thành sản phẩm, có thể lên tới 50%. Khi các nhà cung cấp điều chỉnh giá, doanh nghiệp sản xuất sẽ chịu tác động rất rõ”, bà Thanh nói.
Theo thông báo từ các nhà cung cấp, giá nguyên phụ liệu đã bắt đầu tăng khoảng 10-17%, tùy từng loại sản phẩm. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá xăng dầu biến động và chi phí vận chuyển đầu vào của các nhà cung cấp cũng tăng theo.
Không chỉ vận tải quốc tế, chi phí logistics trong nước cũng đang tăng theo đà tăng của giá nhiên liệu. Tại Thiên Thanh Bình, chi phí vận chuyển nội địa hiện tăng khoảng 3-4% so với trước. Bà Thanh nhận định, yếu tố gây áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp dệt may hiện nay vẫn là biến động lên giá nguyên liệu.
“Nếu giá dầu thô tăng khoảng 40%, thì giá nguyên liệu đầu vào của ngành dệt may có thể tăng khoảng 10-15%. Trong khi đó, nguyên phụ liệu chiếm khoảng 50% giá thành sản phẩm, nên khi giá nguyên liệu tăng thì tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ bị tác động rất rõ”, bà Thanh phân tích.
Những diễn biến này cho thấy, tác động của căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang dần lan rộng từ thị trường năng lượng sang chi phí sản xuất, logistics và hoạt động xuất khẩu của nhiều ngành kinh tế.
Gia cố “sức đề kháng”
Khi chi phí nguyên liệu và logistics đồng loạt tăng, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đang rơi vào thế khó khi làm việc với các đối tác. Một mặt, chi phí đầu vào tăng buộc doanh nghiệp phải cân nhắc điều chỉnh giá bán, nhưng ở chiều ngược lại, việc tăng giá có thể khiến khách giảm đơn hàng hoặc chuyển sang nhà cung cấp khác.
Trong bối cảnh đó, giải pháp ngắn hạn mà nhiều doanh nghiệp đang triển khai là đàm phán lại với các nhà cung cấp để hạn chế mức tăng giá nguyên phụ liệu.
Giám đốc Công ty TNHH Thiên Thanh Bình cho hay, doanh nghiệp đang cố gắng đàm phán với các nhà cung cấp để giữ giá trong thời gian ngắn nhằm hoàn thành những đơn hàng đã ký trước đó. Song các cuộc thương lượng vẫn chưa đạt được sự thống nhất hoàn toàn, bởi cả hai bên đều phải cân đối chi phí trong bối cảnh thị trường biến động.
Cùng với việc thương lượng giá nguyên liệu, doanh nghiệp cũng tìm cách tối ưu chi phí logistics - một trong những khoản chi đang tăng nhanh trong thời gian gần đây. Một giải pháp được nhiều doanh nghiệp áp dụng là thay đổi phương thức giao hàng. Nếu trước đây doanh nghiệp có thể giao hàng thành nhiều chuyến với khối lượng nhỏ, thì nay xu hướng là gom hàng để tăng quy mô mỗi lô hàng, qua đó giảm số chuyến vận chuyển, tiết kiệm chi phí.
Nhiều doanh nghiệp cũng tập trung nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nhằm giảm tỷ trọng chi phí vận chuyển trong giá thành. Bà Nguyễn Trần Thiên Thanh chia sẻ, một sản phẩm có giá trị khoảng 10.000 đồng, doanh nghiệp có thể cải tiến kỹ thuật để nâng giá trị lên khoảng 15.000 đồng. Khi giá trị mỗi đơn hàng tăng lên, tỷ lệ chi phí logistics trên giá trị sản phẩm sẽ giảm xuống, qua đó giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực.
“Chúng tôi cũng bắt đầu chú trọng hơn đến thị trường nội địa. Nếu trước kia doanh thu trong nước chỉ chiếm khoảng 10% tổng doanh thu, thì trong năm nay, Công ty dự kiến nâng tỷ trọng này lên khoảng 30%”, Giám đốc Công ty Thiên Thanh Bình nêu giải pháp.
Không chỉ điều chỉnh khâu sản xuất và thị trường, nhiều đơn vị đang rà soát lại toàn bộ hoạt động vận hành, từ kế hoạch sản xuất, giao hàng, cho đến quản trị tài chính.
Thực tế, khi giá nguyên liệu tăng mạnh trong thời gian ngắn, nhưng các đơn hàng xuất khẩu đã được ký trước đó với mức giá cố định, doanh nghiệp gần như phải tự hấp thụ một phần lớn chi phí tăng thêm. Điều này khiến biên lợi nhuận của nhiều đơn hàng bị thu hẹp.
Chưa kể, khi thị trường logistics biến động và lịch tàu thiếu ổn định, doanh nghiệp buộc phải chủ động mua nguyên liệu sớm hơn, chuẩn bị sản xuất sớm hơn và dự phòng nhiều hơn cho kế hoạch sản xuất, giao hàng, khiến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp tăng cao.
Với doanh nghiệp nông nghiệp xuất khẩu, ông Phạm Quốc Liêm, Chủ tịch Công ty cổ phần Nông nghiệp U&I (Unifarm) thông tin, việc chuẩn bị cho các biến động của thị trường thực tế đã được doanh nghiệp triển khai từ nhiều năm trước.
“Chúng tôi vừa quan sát diễn biến thị trường, vừa chuẩn bị cho mọi tình huống có thể xảy ra”, ông Liêm nói và cho biết, một trong những chiến lược quan trọng của Unifarm là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhằm giảm phụ thuộc vào một khu vực hoặc một nhóm khách hàng nhất định. Hiện nay, ngoài khách hàng Dubai và Qatar, chuối của doanh nghiệp được xuất khẩu sang nhiều thị trường tại châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Bên cạnh đó, Unifarm cũng mở rộng sang những thị trường có yêu cầu chất lượng cao như Singapore, Malaysia…
Doanh nghiệp còn chủ động chuẩn bị các phương án đối với nguồn cung đầu vào. Trong lĩnh vực nông nghiệp, chi phí sản xuất chịu ảnh hưởng lớn từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các loại vật tư nông nghiệp, phần lớn đều phải nhập khẩu. Khi căng thẳng địa chính trị xảy ra, giá các loại vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón, có thể tăng rất nhanh. Để giảm thiểu rủi ro, một giải pháp đáng chú ý mà ông Liêm áp dụng là giảm dần tỷ trọng phân bón hóa học và tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ.
“Trong giai đoạn này, chúng tôi tạm dừng một số đơn hàng phân bón hóa học chưa thực sự cần thiết, chuyển sang tăng cường sử dụng phân hữu cơ trong khoảng 1-2 tháng để theo dõi thêm diễn biến thị trường”, ông Liêm cho biết.
Theo ông, việc chuyển đổi này có thể thực hiện khá linh hoạt, bởi doanh nghiệp đã chủ động xây dựng nguồn phân hữu cơ từ nhiều năm trước, tận dụng phế phẩm nông nghiệp và phụ phẩm từ quá trình sản xuất.
Trước tình hình chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng nhiều biến động, các doanh nghiệp thống nhất rằng, nâng cao nội lực, từ quản trị sản xuất, đa dạng hóa thị trường đến năng lực tài chính sẽ là yếu tố quan trọng giúp duy trì sức cạnh tranh và thích ứng tốt hơn trước những cú sốc từ bên ngoài.
"Chính sách hỗ trợ cần bám sát thực tế"
- Bà Nguyễn Kim Thanh, Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Sa Kỳ (Saky Foods)
Trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động mạnh, ngoài nỗ lực tự thích ứng, tôi cho rằng, các chính sách hỗ trợ cần bám sát thực tế. Trước hết là các giải pháp tín dụng và hỗ trợ lãi suất. Với nhiều doanh nghiệp, vốn lưu động được ví như “mạch máu” của hoạt động sản xuất. Lãi suất ở mức cao trong khi giá nguyên liệu tăng và vòng quay vốn kéo dài, sức chịu đựng tài chính của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bị bào mòn.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mong muốn có những giải pháp giảm chi phí logistics một cách thực chất, từ hạ tầng cảng biển, kết nối vận tải đến các chi phí trung gian trong chuỗi vận chuyển.