| |
| |
Những rủi ro gian lận xâm phạm vào giao dịch ngân hàng điện tử luôn tồn tại thực tế, tuy nhiên, việc đưa ra nguyên tắc phân bổ nghĩa vụ chứng minh của mỗi bên thì pháp luật chưa thể có một cách định lượng cụ thể.
Về nguyên tắc, khách hàng chỉ phải chịu trách nhiệm từ những trường hợp mà khách hàng có lỗi trong bảo mật thông tin tài khoản, giao dịch hay vi phạm trách nhiệm thông báo kịp thời cho ngân hàng khi phát hiện thấy có sai sót, nhầm lẫn, bị lợi dụng trong giao dịch. Thông tư số 15/2024/TT-NHNN quy định về cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, tại khoản 4, Điều 17 yêu cầu khách hàng của ngân hàng có trách nhiệm tự bảo vệ các bí mật thông tin tài khoản, giao dịch của cá nhân, tổ chức để đảm bảo an toàn, bảo mật trong giao dịch thanh toán; thông báo kịp thời cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khi phát hiện thấy có sai sót, nhầm lẫn trong giao dịch thanh toán hoặc nghi ngờ thông tin giao dịch bị lợi dụng.
Trong giao dịch ngân hàng điện tử, ngân hàng là đơn vị cung cấp dịch vụ còn khách hàng là bên chấp nhận sử dụng dịch vụ. Do đó, khi phát sinh sự việc rủi ro trong giao dịch ngân hàng điện tử đối với khách hàng, về nguyên tắc khách hàng không có nghĩa vụ phải chứng minh mình không có lỗi. Việc chứng minh, làm rõ mọi vấn đề liên quan chủ yếu thuộc trách nhiệm của ngân hàng. Bởi ngân hàng là bên thiết kế, vận hành và kiểm soát toàn bộ hệ thống công nghệ, cơ chế phòng chống tác động xâm nhập, cơ chế bảo mật, xác thực, lưu trữ dữ liệu trong toàn bộ giao dịch ngân hàng điện tử.
| |
Toàn bộ các dữ liệu điện tử đều có thể trở thành chứng cứ nếu bảo đảm được độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ dữ liệu điện tử, cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử, cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Điều đó được quy định tại khoản 3, Điều 99, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”.
Luật Giao dịch điện tử năm 2023 cũng có quy định về thông điệp dữ liệu cũng có giá trị làm chứng cứ. Trong đó, tại khoản 2, Điều 11 nêu rằng: “Giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu và các yếu tố phù hợp khác”.
| |
Từ những yếu tố trên cho thấy tất cả nhật ký giao dịch, nhật ký xác thực, dữ liệu định danh thiết bị, dữ liệu sinh trắc học hay OTP đều có thể trở thành chứng cứ nếu đảm bảo được các yếu tố của dữ liệu điện tử theo quy định.
Tuy nhiên, giá trị của từng loại dữ liệu là khác nhau. OTP chỉ chứng minh rằng một mã xác thực đã được sử dụng, chứ chưa chứng minh ai là người sử dụng. Sinh trắc học chỉ chứng minh rằng hệ thống đã ghi nhận kết quả xác thực sinh trắc học thành công, nhưng vẫn cần kiểm tra quá trình thu nhận dữ liệu đó có bị giả mạo hay không.
Theo tôi, chứng cứ có giá trị không phải là một dữ liệu riêng lẻ mà là chuỗi dữ liệu điện tử liên tục. Khi toàn bộ các dữ liệu này khớp với nhau có độ tin cậy, có giá trị chứng minh thì mới có giá trị pháp lý là chứng cứ.
| |
Thông tư số 50/2024/TT-NHNN không làm thay đổi nguyên tắc giải quyết tranh chấp theo pháp luật dân sự, nhưng sẽ tác động đáng kể đến việc thu thập và đánh giá chứng cứ trong các tranh chấp về giao dịch ngân hàng điện tử.
Thông tư này quy định về an toàn, bảo mật trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến nên chính từ những đòi hỏi của Thông tư đã tạo nên cơ chế minh bạch trong đánh giá trách nhiệm của các bên trong giao dịch. Điển hình như tại Điều 7 của Thông tư yêu cầu phần mềm ứng dụng online banking của ngân hàng sẽ phải có chức năng lưu trữ trực tuyến thông tin. Điều này giúp nâng cao khả năng truy vết giao dịch và tạo cơ sở khách quan để xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp. Ví dụ như khi tranh chấp xảy ra, cơ quan tài phán sẽ có nhiều thông tin thiết thực để xem xét từ cơ chế lưu trữ trực tuyến trên như thiết bị thực hiện các giao dịch của khách hàng, nhật ký (log) giao dịch, nhật ký xác nhận giao dịch… Thông tư yêu cầu nhiều thông tin dữ liệu phải lưu trữ tối thiểu trong vòng 3 tháng và sao lưu tối thiểu 1 năm. Bên cạnh đó, Thông tư số 50/2024/TT-NHNN còn yêu cầu ngân hàng phải công bố thông tin về dịch vụ trực tuyến (các điều khoản cung cấp, sử dụng dịch vụ, quyền lợi nghĩa vụ của khách hàng, các rủi ro khi sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử..).
Như vậy, với quy định của thông tư này, cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ có tác động tích cực hơn từ quá trình khai thác chứng cứ, gồm các dữ liệu thực hiện giao dịch của các bên và sự tuân thủ pháp luật, cam kết trong quá trình giao dịch của mỗi bên.
| |
Xây dựng hệ thống bảo mật là trách nhiệm đương nhiên của ngân hàng khi pháp luật đã có những yêu cầu cụ thể. Còn việc chủ động giám sát, phát hiện, ngăn chặn các yếu tố bất thường trong giao dịch lại thể hiện mức độ chất lượng và trình độ chuyên nghiệp của ngân hàng. Điều này cho thấy, có những nội dung pháp luật không yêu cầu nhưng các ngân hàng cần quan tâm triển khai vừa vì quyền lợi của khách hàng, vừa vì giá trị của ngân hàng.
Mặc dù trong việc đánh giá đúng sai, sự tuân thủ các quy định pháp luật hiện hữu đối với ngân hàng là đủ nhưng khách hàng vẫn có quyền đòi hỏi ngân hàng chủ động hơn nữa trong việc cảnh báo sớm, xử lý sớm, ngăn chặn giao dịch bất thường tránh tổn hại đến khách hàng, hạn chế phát sinh tranh chấp giữa khách hàng và ngân hàng. Trong tương lai gần, việc khách hàng phân loại, lựa chọn ngân hàng có thể dựa trên mức độ chủ động gia tăng trách nhiệm như vậy của ngân hàng.
| |
Cần nhìn nhận một thực tế mang tính tất yếu là quy định pháp luật rất khó theo kịp thực tế phát triển của công nghệ. Công nghệ có thể thay đổi chỉ trong một thời gian ngắn, còn việc tổng hợp, xây dựng, lấy ý kiến, sửa đổi, ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thường mất nhiều thời gian. Vì vậy, sẽ rất khó để pháp luật dự liệu trước mọi công nghệ mới hay những hình thức gian lận công nghệ mới có thể xuất hiện trong tương lai. Bởi vậy, bên cạnh việc đáp ứng các yêu cầu tối thiểu theo quy định pháp luật, các ngân hàng cũng cần chủ động đầu tư công nghệ, cập nhật quy trình bảo mật.
Có một điểm tích cực từ quá trình hội nhập mang đến cho hệ thống ngân hàng Việt Nam đó là những vấn đề nghiệp vụ, quản trị rủi ro tài chính thường phát sinh sớm tại những thị trường tài chính quốc tế và được cập nhật thành những nền tảng công nghệ tiến bộ hơn. Trong điều kiện hiện nay, các ngân hàng Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận các nền tảng công nghệ mới này.
| |
Về khía cạnh quản lý Nhà nước, hệ thống pháp quy nghiệp vụ sẽ có nhiệm vụ cập nhật các kinh nghiệm quốc tế mà ngân hàng trong nước có nhu cầu ứng dụng để hoàn thiện hành lang pháp lý theo kịp các công nghệ mới. Quá trình tuần hoàn đó luôn diễn ra và sẽ không thay đổi. Yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả đó là tính kịp thời.
Có thể, pháp luật sẽ còn tiếp tục được sửa đổi để theo kịp sự phát triển của công nghệ, nhưng điều đọng lại sau mỗi vụ tranh chấp không chỉ là câu hỏi ai đúng, ai sai hay bên nào phải chịu trách nhiệm.
Giá trị lớn nhất của dữ liệu điện tử không nằm ở bản thân từng dữ liệu, mà ở khả năng tái hiện trung thực toàn bộ diễn biến của giao dịch để sự thật có thể được kiểm chứng bằng chứng cứ. Khi mỗi quyết định của hệ thống đều có thể được giải thích bằng dữ liệu, niềm tin cũng không còn chỉ được tạo ra trong quá trình giao dịch, mà còn được bảo vệ ngay cả khi tranh chấp phát sinh.
| |