Làn sóng đầu tư khủng cho công nghệ
Các quốc gia dẫn đầu thế giới đều coi R&D là "động cơ tăng trưởng" của nền kinh tế. Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều nền kinh tế phát triển đang đầu tư hàng trăm tỷ USD mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trong kỷ nguyên AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, điện toán lượng tử và năng lượng mới.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), tổng chi cho R&D toàn cầu hiện đạt khoảng 3.800 tỷ USD mỗi năm, trong đó Mỹ và Trung Quốc chiếm hơn một nửa.
Mỹ là quốc gia dẫn đầu với mức đầu tư khoảng 1.000 tỷ USD, tương đương 3,35% GDP. Động lực chính đến từ khu vực doanh nghiệp, với những tập đoàn như Amazon, Alphabet (Google), Meta, Microsoft và Apple liên tục chi hàng chục tỷ USD cho nghiên cứu. Riêng 4 "ông lớn" Amazon, Alphabet, Meta và Microsoft dự kiến đầu tư khoảng 610 tỷ USD cho hạ tầng AI và công nghệ trong năm 2026.
Trong khi đó, Trung Quốc nổi lên là nền kinh tế tăng tốc mạnh nhất. Chi cho R&D hiện đạt 500-550 tỷ USD, tương đương 2,5-2,7% GDP, với các doanh nghiệp như Huawei, Tencent, Alibaba, BYD, Xiaomi và Baidu, đóng vai trò đầu tàu đổi mới sáng tạo. Riêng Huawei dành hơn 20% doanh thu cho R&D.
Hàn Quốc là minh chứng rõ nét cho vai trò của khoa học - công nghệ trong phát triển. Dù gần như không có tài nguyên thiên nhiên, quốc gia này đầu tư hơn 5% GDP cho R&D - thuộc nhóm cao nhất thế giới và xây dựng thành công những tập đoàn công nghệ toàn cầu như Samsung, SK Hynix, LG hay Hyundai.
Nhật Bản duy trì mức đầu tư khoảng 200 tỷ USD, tương đương 4,5% GDP, còn Liên minh châu Âu chi khoảng 470 tỷ USD, tương đương 2,2% GDP.
Những con số này cho thấy, các nền kinh tế hàng đầu không coi R&D là chi phí, mà là khoản đầu tư cho tương lai, giúp nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia.
Việt Nam đang ở đâu trong cuộc đua R&D?
Khi R&D trở thành động lực của cả khu vực công và khu vực tư, Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để nâng cao năng suất, tăng sức cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Đối với Việt Nam, R&D không chỉ là nền tảng của khoa học - công nghệ, mà còn là yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng chi cho R&D đạt khoảng 2% GDP.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế vẫn rất lớn. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam hiện mới chi khoảng 0,4-0,5% GDP cho R&D, thấp hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới là 2,62% GDP. Tổng chi cho R&D tăng từ khoảng 18.000 tỷ đồng năm 2015, lên 42.000 tỷ đồng năm 2023, nhưng nếu loại trừ yếu tố lạm phát thì mức tăng thực tế không đáng kể.
Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp chỉ đóng góp khoảng 0,2% GDP cho R&D. Nguồn lực nghiên cứu vẫn chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước, trong khi doanh nghiệp tư nhân - động lực quan trọng của đổi mới sáng tạo vẫn tham gia khá hạn chế.
PGS-TS. Vũ Sỹ Cường (Học viện Tài chính) nhận xét, mức đầu tư hiện nay mới chỉ bằng khoảng một phần tư mục tiêu đề ra. Các rào cản lớn nhất là thủ tục hành chính còn phức tạp, tiến độ giải ngân các quỹ khoa học chậm, thiếu nhân lực chất lượng cao và đặc biệt là tâm lý e ngại rủi ro, sợ bị quy trách nhiệm trong hoạt động nghiên cứu.
Theo ông Vũ Sỹ Cường, cần bảo đảm thực hiện đầy đủ cam kết chi ngân sách cho khoa học - công nghệ, đồng thời tháo gỡ vướng mắc để đẩy nhanh giải ngân. Cùng với đó là chấp nhận mức độ rủi ro nhất định trong nghiên cứu khoa học, hạn chế hình sự hóa các sai sót khách quan; hoàn thiện chính sách tài chính, cho phép doanh nghiệp chuyển lỗ từ hoạt động R&D sang các năm tiếp theo để khuyến khích đầu tư dài hạn; rà soát, đồng bộ hệ thống pháp luật và giải quyết bài toán thiếu nhân lực nghiên cứu.
Ở góc độ khác, GS-TS. Nguyễn Văn Phú, Giám đốc Viện EconomiX (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp - CNRS) cho rằng, cần phá vỡ vòng luẩn quẩn giữa doanh nghiệp ít đầu tư R&D, đào tạo chưa gắn với thực tiễn và thiếu cơ chế kết nối giữa doanh nghiệp với trường đại học.
“Chiến lược đầu tư cho giáo dục đại học và nghiên cứu phải trở thành trụ cột của mô hình tăng trưởng mới. Ba thành tố gồm đại học xuất sắc, cơ chế liên kết doanh nghiệp - đại học và các cực đổi mới sáng tạo sẽ tạo nên hệ sinh thái hoàn chỉnh, giúp chuyển hóa tri thức thành năng lực nghiên cứu, công nghệ và giá trị kinh tế”, ông Phú nói.
Đồng quan điểm, PGS-TS. Đinh Công Hoàng (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đề xuất phân bổ khoảng 25-30% ngân sách R&D cho nghiên cứu cơ bản tại các viện và trường đại học; 35-40% cho các công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến. Phần còn lại nên ưu tiên cho cơ chế đồng tài trợ với doanh nghiệp, đầu tư phòng thí nghiệm dùng chung, hạ tầng dữ liệu, đào tạo nhân lực chất lượng cao, thu hút chuyên gia quốc tế và tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Cũng theo ông Hoàng, bên cạnh nguồn lực tài chính, Việt Nam cần sớm tháo gỡ những điểm nghẽn trong liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, đặc biệt liên quan đến sở hữu trí tuệ, định giá kết quả nghiên cứu và cơ chế chia sẻ lợi ích.
Chìa khóa là nguồn nhân lực
Bên cạnh việc tăng đầu tư, nhiều chuyên gia cho rằng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của R&D.
PGS-TS. Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhấn mạnh, thành công của R&D không chỉ được đo bằng số lượng công trình hay sáng chế, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế. Khi kết quả nghiên cứu được đưa nhanh ra thị trường, doanh nghiệp có thể thu hồi vốn, tái đầu tư cho chu kỳ đổi mới tiếp theo, qua đó giảm đáng kể rủi ro của hoạt động R&D.
Để thương mại hóa hiệu quả cần hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, thay vì chỉ tập trung vào nghiên cứu. Điều này đòi hỏi tăng cường kết nối giữa thị trường khoa học - công nghệ với thị trường hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động; xác định rõ nhu cầu ứng dụng ngay từ đầu; đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để nhà khoa học và doanh nghiệp được hưởng đầy đủ thành quả sáng tạo.
Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là nguồn nhân lực. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, 84,1% nhân lực R&D của Việt Nam hiện làm việc trong khu vực nhà nước; khu vực tư nhân chỉ chiếm 13,8%, còn doanh nghiệp FDI khoảng 2,1%. Cơ cấu này cho thấy khu vực doanh nghiệp - nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm và công nghệ vẫn chưa thực sự trở thành trung tâm của hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chỉ ra, quốc gia có tỷ lệ lao động tham gia R&D càng cao thì GDP bình quân đầu người càng có xu hướng tăng. Trong khi Hàn Quốc có 17,9 người làm R&D trên 1.000 lao động, Trung Quốc đạt 4,3 người và Thái Lan 3,4 người, thì Việt Nam mới đạt khoảng 1,5 người.
Do đó, Việt Nam cần xây dựng đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, nhà sáng chế và doanh nhân công nghệ có tư duy toàn cầu, sẵn sàng chấp nhận và quản trị rủi ro. Muốn vậy, cần có chính sách đào tạo dài hạn, thu hút nhân tài trong và ngoài nước, đồng thời tạo môi trường nghiên cứu đủ sức cạnh tranh để giữ chân người giỏi.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10% mỗi năm trong hai thập kỷ tới, ông Nguyễn Thiện Nhân đề xuất nâng tỷ lệ nhân lực R&D lên khoảng 5,83 người trên 1.000 lao động. Đồng thời, Việt Nam cần sớm triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực R&D, từng bước nâng số lao động trong lĩnh vực này lên gần 300.000 người vào năm 2045, song song với lộ trình tăng tổng chi cho R&D và mở rộng tỷ trọng đầu tư từ khu vực doanh nghiệp.
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá trong kỷ nguyên kinh tế số, khi Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Tuy nhiên, để biến mục tiêu tăng trưởng 2 con số thành hiện thực, cần một bước chuyển mạnh mẽ hơn trong chính sách đầu tư cho R&D.
Điều đó không chỉ là tăng chi ngân sách, mà còn phải tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong hoạt động khoa học, phát triển thị trường công nghệ và đẩy nhanh thương mại hóa kết quả nghiên cứu.