Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai quốc gia

Trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ lượng tử hay công nghệ sinh học đều bắt nguồn từ những nghiên cứu khoa học cơ bản kéo dài hàng thập kỷ. Vì vậy, đầu tư cho khoa học cơ bản chính là đầu tư cho công nghệ lõi, năng lực tự chủ và tương lai quốc gia.
Thực tế cho thấy, mọi đột phá đều bắt đầu từ những nghiên cứu tưởng chừng rất cơ bản trong các phòng thí nghiệmảnh: đại học quốc gia tp.hcm

Đặt khoa học cơ bản vào trung tâm chiến lược phát triển

Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cuối tháng 5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, những lĩnh vực đang định hình tương lai thế giới như AI, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ dữ liệu, năng lượng mới… đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản được đầu tư liên tục trong nhiều thập kỷ. Điều đó cho thấy, nghiên cứu cơ bản mạnh thì có công nghệ lõi mạnh, có năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.

Trong bối cảnh mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, các động lực tăng trưởng truyền thống như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài đang dần bộc lộ giới hạn. Thay vào đó, tăng trưởng phải được dẫn dắt bởi tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu. Trong đó, khoa học cơ bản là nền tảng của toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

TS. Trịnh Thị Tú Anh, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Khoa học cơ bản không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực tiêu tốn nguồn lực, mà là khoản đầu tư chiến lược cho năng lực nội sinh và sức cạnh tranh dài hạn của quốc gia.

Theo bà Tú Anh, lịch sử phát triển của các cường quốc khoa học cho thấy, không có nền công nghệ nào lớn mạnh mà không bắt rễ từ nghiên cứu cơ bản. Giá trị của khoa học cơ bản có thể khó đo lường trong ngắn hạn, nhưng hệ quả của việc xem nhẹ lĩnh vực này chính là sự lệ thuộc công nghệ kéo dài.

“Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, năng lực tự chủ không chỉ được đo bằng quy mô nền kinh tế hay năng lực sản xuất, mà còn bằng khả năng tạo ra tri thức mới. Khoa học cơ bản là nền tảng của tự chủ công nghệ và tự chủ chiến lược”, bà Tú Anh nhận định.

Từ nền móng của các công nghệ chiến lược đến năng lực cạnh tranh quốc gia

Bộ khoa học và công nghệ vừa ban hành Quyết định 2555/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (PEBR). Chương trình mới định hướng đầu tư theo cụm nhiệm vụ, chuỗi nghiên cứu trung và dài hạn kéo dài từ 5-10 năm. Trọng tâm là xây dựng năng lực nghiên cứu dẫn dắt, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và hình thành nền tảng công nghệ lõi cho quốc gia.

Hầu hết các công nghệ dẫn dắt cuộc cách mạng công nghiệp hiện nay đều được xây dựng trên nền tảng tri thức khoa học cơ bản. AI phát triển từ toán học, xác suất thống kê và khoa học máy tính. Ngành bán dẫn dựa trên vật lý chất rắn, cơ học lượng tử và khoa học vật liệu. Công nghệ sinh học hình thành từ di truyền học và sinh học phân tử. Còn công nghệ lượng tử được phát triển từ những nghiên cứu nền tảng của vật lý lượng tử.

PGS-TS. Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) nhận định, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản thực chất là đầu tư cho khả năng tạo ra tri thức mới, hấp thụ công nghệ, cải tiến công nghệ và tiến tới sáng tạo công nghệ.

Dẫn trường hợp của Corning - doanh nghiệp sở hữu công nghệ Gorilla Glass đang được sử dụng trên phần lớn điện thoại thông minh cao cấp trên thế giới, GS-TS. Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, thành công của doanh nghiệp này không đến từ năng lực sản xuất đơn thuần, mà là kết quả của nhiều thập kỷ nghiên cứu khoa học vật liệu.

“Mọi đột phá công nghệ đều được xây dựng trên nền tảng tri thức được tích lũy qua nhiều năm trong các phòng thí nghiệm và trường đại học nghiên cứu. Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, trước hết phải làm chủ tri thức nền tảng. Muốn có công nghệ mạnh, phải có khoa học cơ bản mạnh”, ông Trình nhấn mạnh.

Việt Nam đang đặt mục tiêu hình thành các doanh nghiệp công nghệ tầm khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, ông Trình cho rằng, nếu chỉ dựa vào nhập khẩu công nghệ, thì doanh nghiệp rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Lợi thế thực sự chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp có thể sở hữu công nghệ lõi được phát triển từ nền tảng nghiên cứu trong nước.

Thực tế cho thấy, vị thế trung tâm đổi mới sáng tạo toàn cầu của Hoa Kỳ không chỉ được tạo nên bởi các tập đoàn công nghệ như Google, Apple, Microsoft hay Nvidia, mà còn bởi hệ thống đại học nghiên cứu hàng đầu như Stanford, MIT, Berkeley hay Harvard - nơi sản sinh nhiều công trình khoa học đặt nền móng cho Internet, vi mạch, laser và AI.

Các quốc gia khác như Nhật Bản dành gần 3,3% GDP cho R&D, Hàn Quốc trên 4,8%, Israel trên 5%. Điểm chung của các quốc gia này là duy trì đầu tư liên tục cho nghiên cứu cơ bản trong nhiều thập kỷ trước khi gặt hái thành công trong các ngành công nghệ chiến lược như bán dẫn, điện tử, công nghệ sinh học hay quốc phòng.

GS-TS. Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, Việt Nam có thể mua thiết bị hoặc tiếp nhận công nghệ, nhưng không thể mua được năng lực sáng tạo công nghệ. Muốn làm chủ công nghệ lõi, phải làm chủ tri thức nền tảng.

Theo PGS-TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), mọi cuộc cách mạng công nghệ lớn trong lịch sử đều bắt nguồn từ những khám phá của khoa học cơ bản. Với Việt Nam, đầu tư cho khoa học cơ bản không chỉ là đầu tư cho tri thức, mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam không thể chỉ đóng vai trò là nơi tiếp nhận công nghệ, mà cần từng bước trở thành quốc gia có khả năng tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Khi làm chủ được tri thức nền tảng, Việt Nam mới có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển các doanh nghiệp công nghệ nội địa và hình thành những ngành công nghiệp mới có sức cạnh tranh quốc tế.

Hoàn thiện hệ sinh thái khoa học cho tăng trưởng dài hạn

Các chuyên gia cho rằng, khoa học cơ bản là lĩnh vực đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, không thể phát triển bằng tư duy nhiệm kỳ hay các chương trình ngắn hạn. Nhiều thành tựu khoa học phải mất 10-20 năm mới có thể chuyển hóa thành công nghệ và giá trị kinh tế.

Theo GS-TS. Chử Đức Trình, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không có công nghệ chiến lược nào được hình thành trong sự tách biệt. Các đột phá công nghệ lớn nhất của thế giới đều là kết quả của sự kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà nước.

Trong mô hình này, trường đại học tạo ra tri thức mới và đào tạo nhân lực; viện nghiên cứu phát triển công nghệ nền tảng; doanh nghiệp thương mại hóa kết quả nghiên cứu; còn nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và đầu tư cho các lĩnh vực chiến lược. Do đó, một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay là hoàn thiện cơ chế liên kết giữa 4 chủ thể này, nhằm rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.

Bên cạnh đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là điều kiện tiên quyết. Việc xây dựng các chương trình đào tạo tài năng STEM, phát triển các trường đại học nghiên cứu mạnh, hình thành trung tâm nghiên cứu xuất sắc và thu hút đội ngũ nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài sẽ góp phần tạo nền tảng nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược.

Đồng quan điểm, TS. Trịnh Thị Tú Anh cho rằng, hệ sinh thái nghiên cứu muốn có chiều sâu phải được xây dựng từ giáo dục phổ thông, đại học, nghiên cứu sinh cho đến các nhà khoa học đầu ngành. Việt Nam cần đồng thời thực hiện 3 cam kết lớn gồm: cam kết đầu tư dài hạn cho con người; cam kết thể chế để bảo vệ tự do học thuật; cam kết văn hóa để xã hội thực sự tôn trọng người làm khoa học.

Từ góc độ chính sách, PGS-TS. Đinh Công Hoàng đề xuất, trong mục tiêu dành 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), Việt Nam nên phân bổ khoảng 25-30% ngân sách cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu nền tảng; 35-40% cho các chương trình công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến.

Phần còn lại cần tập trung cho cơ chế đồng tài trợ với doanh nghiệp, phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao, thu hút chuyên gia quốc tế và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Lịch sử phát triển của các quốc gia công nghiệp cho thấy, không có con đường tắt để hình thành công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Mọi đột phá đều bắt đầu từ những nghiên cứu tưởng chừng rất cơ bản trong các phòng thí nghiệm. Khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đầu tư cho khoa học cơ bản không chỉ là đầu tư cho tri thức, mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh, cho tự chủ chiến lược và cho vị thế của đất nước trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Tú Ân
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục