Cạnh tranh hút vốn và khẩu vị nhà đầu tư thế hệ mới
Sau gần 40 năm Đổi Mới, mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch mạnh mẽ sang dựa trên khoa học, công nghệ và hạ tầng hiện đại với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng lượng, logistics và các ngành công nghệ cao. Để đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới, nhu cầu vốn đầu tư ước tính cho giai đoạn 5 năm 2026 - 2030 lên tới 1.500 tỷ USD. Theo bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, nền kinh tế có thể chỉ còn khoảng từ 3 - 5 năm để tận dụng cơ hội vàng bứt phá.
Trong khi đó, cạnh tranh hút vốn trên bình diện toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, không chỉ ở những nền kinh tế mới nổi mà cả từ các nền kinh tế phát triển.
Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (mã KBC) chia sẻ câu chuyện về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nội địa của Nhật Bản vào ngành bán dẫn với hàng chục tỷ USD trợ cấp. Trọng tâm bao gồm việc rót vốn mạnh cho dự án chip tiên tiến của Rapidus Corporation và liên minh với Tập đoàn TSMC (Đài Loan, Trung Quốc). Nhật Bản áp dụng chiến lược kép: vừa bơm vốn ngân sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước nghiên cứu công nghệ chip thế hệ mới, vừa thu hút chuỗi cung ứng nước ngoài thông qua các gói trợ cấp khổng lồ. Mục tiêu của quốc gia này là làm chủ công nghệ sản xuất chip tiên tiến và tăng gấp 5 lần doanh số bán dẫn nội địa vào năm 2040.
“Họ đang nỗ lực chuyển mình, đặt cược tương lai quốc gia vào công nghệ bán dẫn với những bước đi chiến lược”, ông Tâm nói.
Trong cuộc đua thu hút dòng vốn toàn cầu, Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt khi dòng tiền quốc tế đang bị hút mạnh bởi các tập đoàn công nghệ lớn tại Mỹ - nơi quy mô đầu tư của riêng 5 doanh nghiệp trí tuệ nhân tạo (AI) hàng đầu đã lên tới 1.100 tỷ USD/năm.
Theo ông Tâm, trong kỷ nguyên tăng trưởng mới, chiến lược thu hút vốn không chỉ dừng lại ở các ngành sản xuất truyền thống, mà phải hướng tới công nghệ cao và phát triển bền vững. Việt Nam đang nỗ lực đấu tranh để Hoa Kỳ gỡ bỏ hoàn toàn các hạn chế về công nghệ cao, chip và bản quyền, qua đó, tạo điều kiện cho nền kinh tế tiếp cận những công nghệ tiên tiến nhất.
AI chính là xương sống và tương lai của kinh tế thế giới. Các trung tâm dữ liệu (Data Center) hiện không đơn thuần là kho lưu trữ, mà bản chất là các “nhà máy AI” - nơi sản xuất ra các ý tưởng và công nghệ tự động hóa. Khi thu hút được các dự án này, khách hàng lớn trên toàn cầu sẽ đến thuê hạ tầng, tạo ra dòng tiền quốc tế đổ về Việt Nam.
Đây chính là chiến lược “xuất khẩu tại chỗ”. Nếu chỉ tập trung vào sản xuất gia công, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ thâm dụng lao động và bào mòn tài nguyên đất đai. Ngược lại, việc thu hút dòng ngoại tệ sạch và bền vững thông qua phát triển du lịch, vận hành các trung tâm tài chính quốc tế và các “nhà máy AI” sẽ khẳng định bước nâng tầm về chất lượng của kinh tế Việt Nam.
| |
Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Quản Trọng Thành, Giám đốc Khối Phân tích Công ty Chứng khoán Maybank Investment Bank Việt Nam cho biết, một trong những lo ngại lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài hiện nay là họ không tìm thấy cơ hội đầu tư theo các xu hướng mới tại Việt Nam. Cơ cấu thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn tập trung vào ngành ngân hàng và bất động sản, trong khi các lĩnh vực khác chiếm tỷ trọng quá nhỏ.
Để đa dạng hoá “giỏ hàng” trên thị trường chứng khoán, theo ông Thành, có rất nhiều việc phải làm, chẳng hạn như gia tăng hàng hoá trong lĩnh vực công nghệ. Quy định pháp lý hiện hành yêu cầu doanh nghiệp phải có lịch sử hoạt động và có lãi mới được niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán. Tuy nhiên, các công ty công nghệ trong nước hầu hết đang ở giai đoạn khởi nghiệp, dòng tiền âm và phải “đốt” vốn. Do đó, cơ quan quản lý cần cân nhắc điều chỉnh quy định theo hướng cho phép các doanh nghiệp công nghệ chưa có lợi nhuận được niêm yết lên sàn.
Ông Thành nhấn mạnh, có một hành động có thể làm ngay bây giờ, đó là thay đổi cách “kể câu chuyện AI” của giới phân tích.
“Nhà đầu tư quốc tế đang “mặc định” Việt Nam không có doanh nghiệp AI, nhưng thực tế là có. Nhóm sản xuất hạ tầng AI chưa mạnh, chưa có nhiều, nhưng có một câu chuyện khác quan trọng hơn là doanh nghiệp ứng dụng AI để cải thiện năng lực”, ông Thành nói và cho rằng, giới phân tích thị trường cần thay đổi phương thức truyền thông, tập trung làm nổi bật cách các doanh nghiệp truyền thống như ngân hàng hay nhà bán lẻ đang ứng dụng AI hiệu quả để nâng cấp năng lực vận hành, thay vì chỉ tìm kiếm các doanh nghiệp AI thuần túy.
Từ góc nhìn của một tổ chức vừa đầu tư vốn, vừa quản lý vốn và tư vấn huy động vốn, ông Bùi Thành Trung, Phó tổng giám đốc cấp cao Công ty Chứng khoán Thiên Việt (TVS) cho rằng, sự phát triển của khu vực doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo không chỉ phụ thuộc vào lượng vốn sẵn có, mà quan trọng hơn là khả năng dòng vốn được luân chuyển liên tục trong suốt vòng đời doanh nghiệp.
TVS đã đồng hành với nhiều doanh nghiệp công nghệ và khởi nghiệp như MoMo, Finhay, Citics, Dat Bike, Galaxy Entertainment & Education hay NamiTech. Theo ông Trung, điểm chung của các doanh nghiệp này là giá trị nằm ở công nghệ, dữ liệu, mô hình kinh doanh và đội ngũ sáng lập, thay vì tài sản hữu hình. Chính vì vậy, họ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng ở giai đoạn tăng trưởng đầu tiên, trong khi thị trường vốn cổ phần càng khó bước chân vào.
Một giải pháp khác nhằm gia tăng sức hút dòng vốn quốc tế vào thị trường chứng khoán Việt Nam được giới chuyên gia đề cập là mở đường cho khối doanh nghiệp FDI niêm yết.
“Nên đẩy nhanh việc cấp phép cho các doanh nghiệp FDI lớn được niêm yết trên sàn chứng khoán nội địa nhằm tạo ra giỏ hàng hóa chất lượng cao, thương hiệu lớn để thu hút dòng tiền ngoại”, ông Quản Trọng Thành khuyến nghị.
Vấn đề kỹ thuật trong giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài được bà Wanming, đại diện FTSE Russell đề cập khi cho rằng, Việt Nam nên áp dụng mô hình nhà môi giới toàn cầu. Hiện tại, để đầu tư ở Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài phải đăng ký giao dịch tại địa phương, mở tài khoản và hoàn tất nhiều thủ tục khác. FTSE đang đề xuất một phương án cho phép các quỹ theo dõi chỉ số có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua chính nhà môi giới toàn cầu mà họ đang sử dụng, thay vì phải làm việc riêng với một nhà môi giới nội địa.
6 tháng đầu năm 2026, Đông Nam Á có 53 thương vụ IPO, huy động được 1,41 tỷ USD và giá trị vốn hóa thị trường IPO đạt 7,70 tỷ USD. Việt Nam có 4 thương vụ IPO góp mặt trong Top 10 giao dịch tại Đông Nam Á (gồm Điện Máy Xanh, Hạ tầng Gelex, LPBS, Chăn nuôi Hòa Phát), dẫn đầu khu vực về giá trị vốn hóa thị trường IPO, đạt 6,929 tỷ USD.
Ông Thomas Nguyễn, Giám đốc Thị trường nước ngoài của Công ty Chứng khoán SSI cho rằng, phần lớn nhà đầu tư toàn cầu không chỉ tập trung vào một quốc gia cụ thể. Họ phải quản lý danh mục trên rất nhiều thị trường khác nhau, với hàng loạt quy định và nghĩa vụ tuân thủ.
“Thị trường Việt Nam hấp dẫn nhưng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong danh mục toàn cầu của họ. Điều họ mong muốn là đừng yêu cầu họ thiết lập một quy trình riêng biệt chỉ dành cho Việt Nam”, ông Thomas Nguyễn nói.
Bên cạnh ý tưởng đầu tư, các định chế tài chính lớn thế giới (như Vanguard, BlackRock) cũng đặt ra những tiêu chuẩn kỹ thuật vô cùng khắt khe về hạ tầng giao dịch khi tiếp cận thị trường. Tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”, ông Trịnh Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC) đã chia sẻ câu chuyện về “cuộc chiến mili-giây” trong công nghệ giao dịch.
Theo CEO HSC, khối ngoại luôn yêu cầu thời gian chạy lệnh cực kỳ nhanh. Hệ thống hiện tại của Việt Nam mất khoảng 10 mili-giây cho một vòng lệnh (tương đương 100 lệnh/giây), trong khi nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi tốc độ xử lý đạt 2.000 lệnh/giây. Khi các công ty chứng khoán tối ưu hóa tối đa các công đoạn vận hành thì tốc độ cũng chỉ ép xuống được 3 mili-giây. Để đạt mức 0,5 mili-giây theo chuẩn quốc tế, đòi hỏi mức đầu tư khổng lồ để can thiệp vào chip và sở giao dịch chứng khoán phải cung cấp dịch vụ đặt máy chủ vật lý sát sở giao dịch.
Cần “mỏ neo” dòng tiền dài hạn
“Vốn ngoại là cần thiết, nhưng không thể chỉ trông chờ vốn ngoại. Muốn thị trường ổn định, cần phát triển nhà đầu tư tổ chức nội địa, quỹ hưu trí, bảo hiểm nhân thọ, quỹ mở”, ý kiến của chuyên gia DragonCapital cũng là mối trăn trở của không ít thành viên thị trường.
Từ góc nhìn của bà Nguyễn Thị Hằng Nga, Tổng giám đốc Công ty TNHH Quản lý Quỹ Đầu tư chứng khoán Vietcombank (VCBF), hành vi đầu tư ngắn hạn của nhà đầu tư cá nhân thường bị chi phối bởi hai nhóm yếu tố.
Nhóm thứ nhất là tâm lý bầy đàn, đi kèm hiệu ứng lan truyền thông tin. Khi thị trường tăng trưởng nóng, các “câu chuyện cổ phiếu” và luồng tin tích cực trên mạng xã hội, diễn đàn đầu tư thường được khuếch đại rất nhanh, tạo tâm lý FOMO và thúc đẩy hành vi mua đuổi của nhà đầu tư cá nhân. Ngược lại, khi thị trường điều chỉnh mạnh, tin tiêu cực dễ kích hoạt tâm lý hoảng loạn, khiến nhà đầu tư bán ra vào thời điểm bất lợi. Điểm chung là quyết định nhiều khi dựa trên cảm xúc và thông tin ngắn hạn, thay vì đánh giá nền tảng doanh nghiệp và định giá theo tầm nhìn dài hạn.
Nhóm thứ hai là sự lệch pha giữa mức độ chấp nhận rủi ro và khả năng chịu rủi ro thực tế. Nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường với kỳ vọng lợi nhuận cao trong thời gian ngắn, nhưng chưa lượng hóa đầy đủ rủi ro trong danh mục. Khi thị trường diễn biến ngược kỳ vọng, phản ứng thường thấy là phòng vệ quá nhanh hoặc cắt lỗ theo cảm tính, từ đó làm đứt gãy kỷ luật đầu tư.
Trong khi đó, các quỹ thường coi lợi nhuận là kết quả của quá trình tích lũy qua nhiều chu kỳ. Họ xây dựng danh mục đa dạng hóa, kiểm soát rủi ro chặt chẽ, đồng thời duy trì truyền thông minh bạch để giúp nhà đầu tư hiểu rõ chiến lược và tránh bị chi phối bởi biến động ngắn hạn.
“Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát triển của nhà đầu tư tổ chức. Điều quan trọng không chỉ là tạo thêm sản phẩm đầu tư, mà còn phải xây dựng các định chế tài chính chuyên nghiệp có khả năng dẫn dắt dòng tiền trong xã hội đến những lĩnh vực tạo ra giá trị dài hạn”, lãnh đạo VCBF nêu quan điểm.
Theo ông Dominic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital, hiện tại là thời điểm phù hợp để phát triển nhà đầu tư tổ chức tại Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu của nhà đầu tư.
“Sau gần 30 năm thị trường chứng khoán đi vào vận hành, chúng tôi nhận thấy đang tồn tại một phân khúc nhà đầu tư không có thời gian, thiếu kiến thức chuyên môn không dám tự đầu tư, mà muốn giao đồng vốn cho người đầu tư chuyên nghiệp”, ông nói.
Theo nghiên cứu của Dragon Capital, khi thu nhập bình quân hàng năm ở mức từ 5.000 - 10.000 USD/người, người dân có nhu cầu đầu tư. Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người đã đạt mức 5.000 USD/năm, ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM còn cao hơn.
Nhìn ra châu lục, 10 năm trước, nền kinh tế Ấn Độ cũng phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Sau đó, họ phát triển mạnh các nhà đầu tư tổ chức, chú trọng doanh nghiệp tăng trưởng bền vững, khiến thị trường chứng khoán trở thành nơi cất trữ tài sản dài hạn. Hàng chục triệu người Ấn Độ mỗi tháng tự động đầu tư vào quỹ, dòng tiền dài hạn vì thế tăng rất mạnh. Hiện dòng vốn này hàng tháng tương đương khoảng 3 - 4 tỷ USD, tạo nguồn vốn ổn định cho thị trường tài chính quốc gia này.
Malaysia, với quy mô dân số hơn 34 triệu người, cũng xây dựng được hệ thống quỹ hưu trí rất mạnh. Quỹ hưu trí tại Malaysia hiện quản lý khối tài sản trị giá hàng trăm tỷ USD, là nguồn vốn dài hạn khổng lồ, nên mỗi khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, luôn có nhà đầu tư tổ chức mua.
Yếu tố quan trọng khác trong “giữ chân” dòng vốn dài hạn là tư duy đường dài của các định chế tài chính trung gian như công ty chứng khoán. Thay vì chăm chăm cho vay margin và kích thích đầu tư ngắn hạn ăn phí, lãi vay, một số công ty chứng khoán đã ưu tiên đầu tư bán lẻ. Hành trình này có thể mất nhiều thời gian, công sức nhưng sẽ tạo được nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.
Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SHS cho biết, Công ty đang xây dựng mô hình “One-Stop Shop”, nơi khách hàng có thể sử dụng đồng bộ các dịch vụ môi giới, quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư, tư vấn doanh nghiệp và thị trường vốn. Đầu tư vào công nghệ, quản trị rủi ro, con người và năng lực tư vấn đòi hỏi sự dày công nhưng có thể đem lại sự thịnh vượng chung cho khách hàng và niềm tin vào thị trường vốn.