Khu công nghiệp sinh thái bắt đầu tạo hiệu quả đo đếm được
Chia sẻ với Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Nguyễn Trâm Anh, Quản lý Dự án Quốc gia, Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) tại Việt Nam, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) cho biết, từ năm 2014, với sự tài trợ của Chính phủ Thụy Sỹ thông qua SECO, UNIDO đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), hỗ trợ Việt Nam xây dựng nền tảng chính sách và các mô hình thực tiễn về khu công nghiệp sinh thái.
Đến nay, khu công nghiệp sinh thái đã được luật hóa và từng bước hoàn thiện khung pháp lý, từ Nghị định 82/2018/NĐ-CP, Nghị định 35/2022/NĐ-CP đến Thông tư 05/2025/TT-BKHĐT. Các quy định về khu công nghiệp sinh thái cũng như tiêu chí để một khu công nghiệp được công nhận đã được ban hành.
Mô hình này đồng thời được lồng ghép vào các chính sách về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển đầu tư. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt mục tiêu đến năm 2030 có 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước là khu công nghiệp sinh thái.
Ở cấp độ thực tiễn, chương trình đã hỗ trợ 10 khu công nghiệp, khoảng 160 doanh nghiệp, với hơn 1.200 giải pháp được triển khai. Qua đó, mỗi năm tiết kiệm khoảng 200.000 MWh điện, gần 1 triệu m³ nước và giảm hơn 340.000 tấn CO₂. Hơn 42 triệu USD đã được đầu tư, mang lại mức tiết kiệm gần 10 triệu USD mỗi năm.
| |
| Theo TS. Nguyễn Trâm Anh, Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn nhân rộng và thể chế hóa khu công nghiệp sinh thái (Ảnh: Lê Toàn). |
Cùng với những kết quả về sử dụng tài nguyên và giảm phát thải, quá trình này cũng làm thay đổi cách nhìn của các chủ đầu tư. Từ chỗ tập trung chủ yếu vào cho thuê đất, các chủ đầu tư bắt đầu nhìn khu công nghiệp như một hệ sinh thái với nhiều dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, chú trọng sử dụng hiệu quả tài nguyên, chia sẻ hạ tầng dùng chung, giảm phát thải, hỗ trợ cộng đồng và bảo vệ hệ sinh thái bản địa.
Đánh giá theo Khung quốc tế về khu công nghiệp sinh thái, các khu công nghiệp được hỗ trợ đều có mức cải thiện đáng kể. AMATA tăng từ 41% lên 87%, DEEP C từ 47% lên 83% và Hiệp Phước từ 44% lên 76%.
Từ nền tảng đó, yêu cầu đối với khu công nghiệp sinh thái đang được đặt ở một cấp độ mới.
Nói tại Diễn đàn Bất động sản công nghiệp Việt Nam 2026 (VIPF 2026), bà Trâm Anh nhấn mạnh, khu công nghiệp thế hệ mới cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái tập trung đảm bảo vào các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn, hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn. Bên cạnh đó là tăng cường tính chống chịu của hệ sinh thái trước các áp lực bên ngoài, đồng thời tích hợp các yếu tố đổi mới sáng tạo, dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số.
Nhân rộng cần thay đổi từ hạ tầng và chính sách
Để thực hiện được điều này, theo bà Trâm Anh, yếu tố cần tích hợp ngay từ khâu quy hoạch ban đầu là năng lượng. Năng lượng tái tạo phải bảo đảm chất lượng và độ ổn định để có thể thu hút các ngành công nghiệp thế hệ mới như bán dẫn, điện tử và công nghệ cao.
Điều này cho thấy hạ tầng năng lượng đang trở thành một phần của năng lực cạnh tranh của khu công nghiệp. Với những ngành sản xuất công nghệ cao, yêu cầu không chỉ là có đủ điện mà còn phải bảo đảm chất lượng và tính ổn định của nguồn cung.
Bên cạnh năng lượng, một lớp hạ tầng mới cũng đang được đặt ra là dữ liệu phục vụ quản trị tài nguyên và phát thải. Cụ thể, cần có quy chế và công cụ thu thập, chia sẻ dữ liệu giữa các doanh nghiệp thứ cấp và nhà phát triển hạ tầng để thực hiện quan trắc carbon, hướng tới mục tiêu Net Zero.
Khi đó, dữ liệu không chỉ phục vụ báo cáo môi trường mà trở thành cơ sở để khu công nghiệp theo dõi mức sử dụng tài nguyên, phát thải và tiến độ chuyển đổi của từng doanh nghiệp, từ đó có cách thức quản trị phù hợp hơn.
Hạ tầng logistics tích hợp cũng được đặt trong nhóm những yêu cầu cần thiết đối với khu công nghiệp thế hệ mới. Cùng với năng lượng và dữ liệu, đây là những cấu phần cho thấy quá trình chuyển đổi đang diễn ra ở cấp độ hạ tầng và mô hình vận hành, thay vì chỉ bổ sung một số giải pháp “xanh” cho các khu công nghiệp hiện hữu.
Trong khi đó, Việt Nam đã bước sang giai đoạn nhân rộng và thể chế hóa khu công nghiệp sinh thái. Mục tiêu đến năm 2030 có 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước là khu công nghiệp sinh thái tạo ra yêu cầu phải mở rộng mô hình.
Khung pháp lý đã từng bước được hoàn thiện, trong khi một số địa phương như Đồng Nai, TPHCM, Hải Phòng và Bắc Ninh đã đưa khu công nghiệp sinh thái, chuyển đổi xanh vào kế hoạch phát triển.
Tuy nhiên, TS. Trâm Anh lưu ý, để nhân rộng cần tiếp tục hoàn thiện chính sách thực hiện khu công nghiệp sinh thái, trong đó có các chính sách ưu đãi như ưu đãi thuế, ưu đãi về thời gian cho thuê và cho vay ưu đãi đối với các giải pháp khu công nghiệp sinh thái.
Cùng với chính sách, năng lực kỹ thuật trong nước cũng cần được nâng lên. Chủ đầu tư khu công nghiệp, doanh nghiệp và các nhà cung cấp dịch vụ cần có khả năng tự đánh giá và triển khai các giải pháp khu công nghiệp sinh thái, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào hỗ trợ kỹ thuật quốc tế.