Thước đo của cải cách là số thủ tục được rút gọn, chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp giảm. Ảnh: Đức Thanh
Đo lường bằng kết quả
Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội XIV của Đảng đặt ra mục tiêu phát triển ở tầm cao mới, gắn với các mốc năm 2030 và tầm nhìn 2045. Báo cáo các văn kiện nêu rõ, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD/năm. Đồng thời, mục tiêu tổng quát được xác định là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Mục tiêu lớn cần một kỷ luật triển khai đủ chặt để chuyển hóa thành kết quả. Văn kiện lần này nhấn mạnh tinh thần hành động theo chuỗi yêu cầu rõ ràng: lựa chọn đúng, triển khai nhanh, làm đến nơi đến chốn, đo lường bằng kết quả.
Điểm nhấn đó thể hiện tư duy quản trị nhất quán: đặt trách nhiệm thực thi lên hàng đầu, coi kết quả đầu ra là chuẩn kiểm chứng. Khi chuẩn kiểm chứng đã xác lập, việc tổ chức thực hiện cần bám sát logic kết quả, giảm tối đa độ trễ, hạn chế hình thức, tăng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm phối hợp.
Trong hệ quan điểm chỉ đạo, văn kiện nhấn mạnh mối quan hệ giữa ổn định và phát triển, coi nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân là tiêu chuẩn trung tâm.
Quan điểm này tạo ra nền tảng chính trị và xã hội cho các mục tiêu kinh tế. Phát triển được nhìn từ chất lượng thụ hưởng, từ năng lực bảo đảm ổn định, từ khả năng huy động sức mạnh tổng hợp. Khi chất lượng quản trị tăng, niềm tin xã hội tăng, nguồn lực xã hội được giải phóng mạnh hơn, năng suất được cải thiện bền bỉ hơn.
Từ tinh thần đó, trục xuyên suốt cho giai đoạn 2026-2030 có thể định hình gọn, rõ và thực chất: chuẩn đo cải cách gắn trực tiếp với đời sống, kỷ luật thực thi gắn trực tiếp với trách nhiệm.
Văn kiện lựa chọn một chuẩn đo cải cách có tính cụ thể cao: lấy thời gian và chi phí của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách. Chuẩn đo này đặt bộ máy trước một yêu cầu tưởng chừng đơn giản, nhưng nghiêm khắc: cải cách phải được cảm nhận bằng kết quả, không bằng tuyên bố.
Thời gian và chi phí là những biến số phản ánh “ma sát” của hệ thống quản trị. Ma sát giảm giúp hoạt động kinh tế thông suốt, kế hoạch sản xuất, kinh doanh ít bị gián đoạn, dòng vốn quay vòng nhanh hơn, chi phí cơ hội giảm. Ma sát tăng kéo nguồn lực vào thủ tục, vào chờ đợi, vào bổ sung hồ sơ, vào xác nhận lặp lại.
Khi chuẩn đo được đặt đúng, cải cách có điểm bám để theo dõi theo quý, theo năm, theo từng cấp, từng ngành. Kết quả tốt sẽ có hình hài rõ ràng trong số ngày xử lý được rút ngắn, số lần đi lại giảm, số thủ tục được rút gọn, chi phí tuân thủ giảm.
Văn kiện đồng thời nêu rõ hướng triển khai để đưa chuẩn đo vào thực tế: kiên quyết xóa bỏ cơ chế xin - cho, giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình (quy trình chạy trọn vẹn trên hệ thống), liên thông dữ liệu; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
Đây là gói giải pháp có cấu trúc rõ ràng. Xóa cơ chế xin - cho giúp giảm “độ tùy nghi” trong thực thi. Giảm thủ tục hành chính giúp rút ngắn thời gian và giảm chi phí tuân thủ. Số hóa toàn trình và liên thông dữ liệu tạo nền tảng kỹ thuật để quy trình vận hành minh bạch, có dấu vết, có thể đo đếm. Môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch hỗ trợ giảm chi phí ngoài quy định, giảm rủi ro, tăng khả năng dự báo.
Tạo động lực phát triển mới
Khi chuẩn đo cải cách được áp dụng nhất quán, kỷ luật thực thi được giữ vững, xã hội sẽ nhìn thấy kết quả bằng những thay đổi cụ thể trong thời gian xử lý và chi phí tuân thủ.
Chuẩn đo cải cách chỉ phát huy hiệu lực khi đi cùng kỷ luật thực thi. Văn kiện đặt yêu cầu xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi song song với cải cách. Kỷ luật thực thi ở đây mang nghĩa cụ thể: thực hiện đúng chủ trương, đúng quy trình, đúng thời hạn, đúng trách nhiệm; đồng thời bảo đảm việc thực thi diễn ra trong khuôn khổ pháp luật và chịu sự kiểm soát quyền lực.
Văn kiện nêu thẳng các biểu hiện gây hao mòn nguồn lực và làm suy giảm niềm tin: “Luật thì đúng mà làm thì khó”, “trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng”, “trên nóng, dưới lạnh”, “nói nhiều, làm ít”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”. Việc chỉ rõ như vậy giúp nhận diện đúng trọng tâm của nâng cao chất lượng quản trị: rút ngắn khoảng cách giữa văn bản và đời sống; khắc phục sự thiếu đồng bộ giữa các cấp; xử lý tình trạng né tránh, đùn đẩy; chấn chỉnh kỷ cương hành chính.
Khi kỷ luật thực thi được củng cố, chuẩn đo cải cách sẽ cải thiện theo hướng ổn định và bền vững, thay vì cải thiện theo chiến dịch.
Cùng với kỷ luật thực thi, văn kiện nhấn mạnh yêu cầu thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của Nhân dân. Nội dung này cho thấy cải cách và thực thi không tách rời yêu cầu kỷ cương. Kỷ cương tạo nền cho hiệu quả. Hiệu quả củng cố niềm tin. Niềm tin tạo dư địa cho cải cách sâu hơn.
Trong cấu trúc tổng thể, văn kiện đặt thể chế và phương thức quản trị phát triển quốc gia vào trọng tâm. Tinh thần “lấy thực thi làm thước đo” được nêu như điểm tựa cho việc hoàn thiện thể chế phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Văn kiện xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đồng thời là “đột phá của đột phá”, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới.
Thể chế tốt làm giảm bất định, giảm chi phí, tăng niềm tin; thể chế đồng bộ làm giảm chồng chéo, giảm mâu thuẫn, giảm khoảng trống trách nhiệm; thể chế minh bạch giúp tăng tính dự báo, nâng cao chất lượng quyết định đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh. Khi thể chế được đặt đúng vai trò, mục tiêu tăng trưởng cao có nền tảng để đi cùng chất lượng tăng trưởng.
Cùng với đó, văn kiện nhấn mạnh đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Đây là những điều kiện vận hành của một bộ máy hướng tới kết quả.
Trong nhóm giải pháp triển khai, số hóa toàn diện, toàn trình và liên thông dữ liệu được nêu như một hướng trọng yếu. Số hóa toàn trình giúp giảm khâu trung gian, giảm xử lý thủ công, tăng tính nhất quán, tạo dấu vết để đo thời gian xử lý. Liên thông dữ liệu giúp giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin, giảm lặp lại trong xác minh, giảm độ trễ phối hợp giữa các cơ quan.
Khi nền dữ liệu liên thông được xây dựng, chuẩn đo “thời gian và chi phí” sẽ có cơ sở kỹ thuật để theo dõi thường xuyên, khách quan và có thể so sánh giữa các đơn vị. Kỷ luật thực thi cũng có thêm công cụ để phát hiện điểm nghẽn, xử lý đúng chỗ, hạn chế tình trạng vướng mắc kéo dài.
Đặt chuẩn đo cải cách theo thời gian và chi phí cũng tạo một cầu nối trực tiếp giữa cải cách hành chính và mục tiêu tăng trưởng cao. Thời gian và chi phí tuân thủ giảm sẽ làm giảm chi phí cơ hội, giảm gián đoạn kế hoạch sản xuất, tăng khả năng mở rộng đầu tư. Khi doanh nghiệp giảm gánh nặng thủ tục, nguồn lực có điều kiện tập trung cho đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, mở rộng thị trường. Năng suất tăng lên là kết quả của chuỗi cải thiện đó. Tốc độ tăng trưởng cao sẽ bền hơn khi năng suất và chất lượng tăng trưởng được nâng lên từ nền tảng quản trị.
Giai đoạn 2026-2030, vì vậy, là giai đoạn vừa triển khai, vừa kiểm chứng năng lực quản trị phát triển theo chuẩn đã nêu. Mục tiêu tăng trưởng và các mốc phát triển đã xác định. Chuẩn đo cải cách đã được lựa chọn. Kỷ luật thực thi được đặt thành yêu cầu đi cùng cải cách. Phương pháp triển khai được cô đọng trong yêu cầu “đo lường bằng kết quả”.
Khi chuẩn đo cải cách được áp dụng nhất quán, xã hội sẽ nhìn thấy kết quả bằng những thay đổi cụ thể trong thời gian xử lý và chi phí tuân thủ. Khi kỷ luật thực thi được giữ vững, những biểu hiện trì trệ và vướng mắc đã được chỉ ra sẽ từng bước được khắc phục. Khi thể chế tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ và phương thức quản trị được đổi mới theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình cao, nền công vụ chuyên nghiệp hơn sẽ tạo ra chất lượng thực thi ổn định.
Từ đó, mục tiêu phát triển cao của giai đoạn 2026-2030 có điều kiện đi vào thực chất, gắn với đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, tạo nền cho các mốc 2030 và tầm nhìn 2045. Trong tổ chức thực hiện, chuẩn đo cải cách và kỷ luật thực thi sẽ là hai trụ cột có ý nghĩa quyết định: một trụ cột đo sự chuyển biến bằng con số và trải nghiệm; một trụ cột bảo đảm sự chuyển biến bằng kỷ cương và trách nhiệm.