Chiến lược phân bổ vốn thận trọng

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Dù lãi suất huy động tăng trở lại, tốc độ tăng tiền gửi vẫn chậm hơn tín dụng. Trong bối cảnh các kênh đầu tư liên tục biến động, nhà đầu tư đang cân nhắc lại chiến lược phân bổ dòng tiền giữa tiết kiệm, chứng khoán, bất động sản và vàng.
Dòng tiền nhàn rỗi đang được phân bổ linh hoạt hơn giữa tiết kiệm, chứng khoán, bất động sản và vàng Dòng tiền nhàn rỗi đang được phân bổ linh hoạt hơn giữa tiết kiệm, chứng khoán, bất động sản và vàng

Lãi suất đi lên, dòng tiền gửi phân hóa

Mặt bằng lãi suất tiền gửi bắt đầu nhích tăng từ quý III/2025 và tăng mạnh hơn trong quý I/2026. Tuy nhiên, theo báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng đã công bố (Agribank không công bố báo cáo quý), huy động vốn toàn ngành ghi nhận đà tăng chậm lại rõ rệt, đồng thời xuất hiện sự phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng. Tổng tiền gửi khách hàng hợp nhất của 27 nhà băng đạt khoảng 12,88 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 0,6% so với cuối năm 2025. Mức tăng này thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng 3,6% của tín dụng cùng kỳ năm ngoái, trong đó có tới 12/27 ngân hàng ghi nhận sụt giảm tiền gửi khách hàng, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Về quy mô tuyệt đối, nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục thống trị bảng xếp hạng huy động. BIDV vẫn dẫn đầu toàn hệ thống với hơn 2,14 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, dù giảm 3,7% so với cuối năm trước. VietinBank giữ vị trí thứ hai với 1,82 triệu tỷ đồng, Vietcombank xếp thứ ba với 1,68 triệu tỷ đồng.

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB tiếp tục dẫn đầu với 905.918 tỷ đồng tiền gửi. Theo sau là VPBank với 682.719 tỷ đồng và HDBank với 621.549 tỷ đồng, tăng lần lượt 8,7% và 10,8%. Các vị trí tiếp theo thuộc về Sacombank, SHB, Techcombank và ACB. Nhóm Top 10 huy động vốn quý I/2026 đều có quy mô trên nửa triệu tỷ đồng.

Xét về tốc độ tăng trưởng, HDBank là điểm sáng nổi bật nhất khi dẫn đầu toàn ngành với mức tăng 10,8%. Theo sau là ABBank tăng 9,9%, VPBank tăng 8,7%, VIB tăng 7,4%, OCB tăng 5,8% và NCB tăng 5,9%.

Trong khi đó, chiều ngược lại, nhiều ngân hàng lớn chứng kiến dòng tiền gửi suy giảm. BIDV giảm mạnh nhất trong nhóm Big4 với mức giảm 3,7%, Techcombank giảm 3,1%, ACB giảm 2,7%, TPBank giảm 4,3%, SeABank giảm 3,1%, Saigonbank giảm 3,7% và VietBank giảm tới 4,9% - mức giảm sâu nhất toàn hệ thống.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến 28/4/2026, tín dụng tăng 4,42% so với cuối năm 2025 trong khi huy động vốn tăng rất chậm, khiến huy động vốn (VND) đang “hụt” 2 triệu tỷ đồng so với tín dụng.

Theo Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, với chức năng là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; đồng thời góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Tuy vậy, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng nhìn nhận bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

TS. Châu Đình Linh, Đại học Ngân hàng TP.HCM cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động hiện chịu tác động của nhiều yếu tố nội tại và khách quan, nên khó giảm một cách đáng kể.

Theo ông Linh, nguyên tắc “lãi suất thực dương” và sức ép lạm phát là những yếu tố quan trọng chi phối quyết định gửi tiền. Lãi suất huy động bắt buộc phải duy trì ở mức “thực dương”, ngân hàng mới có thể thu hút được tiền gửi. Dù có sự đồng thuận giảm lãi suất từ hệ thống ngân hàng, nhưng thực tế thị trường lại đang cho thấy những tín hiệu phức tạp. Trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng, tỷ giá chịu sức ép và khả năng hấp thụ vốn phân hóa, việc điều hành chính sách tiền tệ đang đòi hỏi một sự linh hoạt tối đa để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa đảm bảo ổn định vĩ mô.

Lạm phát hiện đã tiệm cận 4% và có thể vượt 4,5% vào cuối năm do áp lực từ giá năng lượng, hàng hóa nhập khẩu cùng tác động của việc tăng lương cơ sở vào tháng 7 tới. Điều này khiến dư địa giảm lãi suất huy động ngày càng thu hẹp.

Bên cạnh lạm phát, áp lực thanh khoản và cạnh tranh nguồn vốn cũng tạo sức ép lên hệ thống ngân hàng.

Vẫn theo TS. Châu Đình Linh, áp lực này đến từ hai phía: một là nhu cầu giải ngân cho vay bắt đầu tăng khi mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% đã được định hình; hai là nhu cầu thanh khoản để chi trả cho các hợp đồng tiền gửi cũ đến hạn nên lãi suất sẽ tăng.

Phân bổ vốn trong giai đoạn nhiều biến động

Năm 2026 không phải là năm của những cú đánh cược mạo hiểm mà là năm của sự chuẩn bị, của “bộ đệm” tài chính vững chắc và việc tìm kiếm giá trị thực trong mọi quyết định đầu tư.

Trong bối cảnh môi trường vĩ mô toàn cầu biến động nhanh, triển vọng của các lớp tài sản cũng chịu tác động trực tiếp. Trên cơ sở đó, ông Bùi Văn Huy, Phó giám đốc FIDT - công ty tư vấn đầu tư và quản lý tài sản - cập nhật một số góc nhìn đối với các lớp tài sản trong 1-2 tháng tới. Cụ thể, với thị trường chứng khoán, kênh này chịu tác động rõ nét từ căng thẳng địa chính trị và biến động giá dầu, khiến triển vọng ngắn hạn kém tích cực. Thị trường được dự báo tiếp tục biến động, song các nhịp điều chỉnh sâu có thể mở ra cơ hội tích lũy cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt với mức định giá hấp dẫn.

Theo ông Huy, nhà đầu tư nên giải ngân với tỷ trọng vừa phải, ưu tiên nhóm Bluechip, VN30 và các ngành ít chịu tác động từ bên ngoài như vật liệu xây dựng, xây dựng và tiêu dùng thiết yếu.

Đối với kênh tiền gửi tiết kiệm, ông Huy cho rằng, lãi suất được dự báo có xu hướng tăng nhẹ trong bối cảnh thanh khoản hệ thống chưa dồi dào, áp lực tỷ giá còn hiện hữu và cơ quan điều hành đã thực hiện hút bớt tiền để ổn định thị trường. Tiền gửi tiết kiệm vì vậy vẫn là kênh phù hợp trong giai đoạn hiện tại nhờ tính an toàn và khả năng duy trì dòng tiền ổn định, đồng thời tận dụng xu hướng lãi suất nhích lên.

Nhà đầu tư có thể ưu tiên kỳ hạn 1-2 tháng để duy trì tính linh hoạt và sẵn sàng tái cơ cấu danh mục khi cơ hội xuất hiện ở các kênh đầu tư khác.

TS. Huỳnh Trung Minh, chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng nhận định, mặt bằng lãi suất không còn duy trì ở mức thấp như trước. Năm 2026 được xem là dấu mốc khép lại kỷ nguyên “tiền rẻ”. Xu hướng lãi suất huy động đã tăng từ quý cuối năm 2025 và tiếp tục đi lên từ đầu năm nay, nhất là trong quý II và có khả năng tiếp tục tăng trong nửa cuối năm 2026, với mức cao nhất lên đến 9-10%/năm cho kỳ hạn tiền gửi trên 1 năm và từ 6-7%/năm cho kỳ hạn từ 1 năm trở xuống.

Hiện tín dụng tăng nhanh trong khi huy động vốn tiếp tục chậm hơn trong những tháng đầu năm cũng tạo áp lực lên thanh khoản, buộc các ngân hàng duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao. Thậm chí, một số ngân hàng nhỏ đã đẩy lãi suất huy động lên tới gần 10%/năm.

Với triết lý đầu tư bất động sản “ăn chắc mặc bền” cùng hạ tầng và kinh nghiệm thực tế, ông Minh đánh giá, các bất động sản gắn liền với hạ tầng giao thông hiện đại (đặc biệt là Metro) mang lại giá trị bền vững và tiềm năng tăng giá cao. Nhà phố và biệt thự vùng ven, với mức giá khoảng 100 triệu đồng/m2 cho nhà đất ở khu vực như Thủ Đức (TP.HCM) được xem là lựa chọn hợp lý hơn so với căn hộ chung cư cao cấp ở trung tâm hơn 300-400 triệu đồng/m2. Năm 2026 không phải là thời điểm cho những quyết định đầu tư mang tính đánh cược, mà là giai đoạn củng cố “bộ đệm” tài chính và tìm kiếm giá trị thực.

Riêng đối với vàng, các nhà phân tích của FIDT cho rằng, giá kim loại quý tiếp tục biến động mạnh trong bối cảnh rủi ro địa chính trị và lạm phát gia tăng, củng cố vai trò là kênh trú ẩn an toàn. Trong giai đoạn tới, vàng vẫn nên được duy trì trong danh mục để phòng ngừa rủi ro, song nhà đầu tư cần tuân thủ chiến lược phân bổ có kỷ luật, tránh mua bán theo tâm lý ngắn hạn. Tỷ trọng hợp lý được khuyến nghị ở mức 5-10% tổng tài sản, đồng thời nên giải ngân theo từng phần để giảm thiểu rủi ro biến động giá.

Ông Huỳnh Trung Khánh, Cố vấn cấp cao Hội đồng Vàng Thế giới tại Singapore, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam cũng cho rằng, có thể duy trì tỷ trọng vàng khoảng 20-30% danh mục như một lớp đệm an toàn.

Vân Linh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục