Cấu trúc lại dòng vốn, bài toán cấp thiết

(ĐTCK) Chính sách tiền tệ luôn đóng vai trò là công cụ hỗ trợ quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi tín dụng ngân hàng gánh phần lớn nhu cầu vốn, áp lực thanh khoản của ngành ngân hàng ngày càng hiện hữu.
Vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế đang dồn chủ yếu lên vai ngành ngân hàng

Cần đa dạng hóa kênh dẫn vốn

Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV kiêm Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, năm 2026, kênh tín dụng ngân hàng dự kiến tiếp tục giữ vai trò quan trọng nhất trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, chiếm khoảng 53% tổng các nguồn vốn đầu tư của năm 2025. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn hệ thống và giữ ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 ở mức 15%, thấp hơn tương đối so với mức tăng 19,07% của năm 2025. Tín dụng sẽ tiếp tục được ưu tiên cho các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, các động lực tăng trưởng và những dự án trọng điểm, đồng thời kiểm soát chặt dòng vốn vào các lĩnh vực rủi ro cao, đầu cơ. Thông điệp này phản ánh rõ một thực tế: ngân hàng vẫn là kênh vốn chủ lực, nhưng cần được san sẻ trong nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu vốn.

TS. Cấn Văn Lực khẳng định, nhu cầu tín dụng trong năm nay vẫn rất lớn. Hàng loạt dự án, công trình trọng điểm quốc gia cần vốn triển khai; nhiều doanh nghiệp sản xuất tăng vay ngắn hạn để bù đắp chi phí đầu vào gia tăng, đặc biệt là logistics, nguyên vật liệu, nhân công và mặt bằng. Không ít doanh nghiệp chủ động tăng dự trữ hàng tồn kho với kỳ vọng giá còn tăng, đồng thời mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực mới như kho bãi phục vụ dự trữ năng lượng, các dự án năng lượng tái tạo, truyền tải điện và sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, lĩnh vực bất động sản vẫn duy trì nhu cầu vốn rất lớn khi nhiều dự án quy mô lớn được triển khai cùng lúc.

Theo ông Lực, trong khi cầu tín dụng lớn, nguồn vốn đầu vào của hệ thống lại không còn dồi dào như trước. Áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, kéo dài từ tình trạng căng thẳng của năm 2025.

Một trong những nguyên nhân khiến huy động vốn tăng chậm, không theo kịp tốc độ tăng trưởng cho vay, được ông Lực chỉ ra, là tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong năm 2025 tăng lên, một phần do khu vực hộ kinh doanh gia tăng giao dịch tiền mặt trong giai đoạn đầu thực hiện các cơ chế mới liên quan đến hóa đơn, chứng từ và thuế giá trị gia tăng. Điều này khiến dòng tiền quay lại hệ thống ngân hàng chậm hơn. Bên cạnh đó là những nguyên nhân mang tính cấu trúc. Có thời điểm, thu ngân sách nhà nước tăng đột biến khiến một phần tiền gửi của Kho bạc Nhà nước chuyển từ hệ thống tổ chức tín dụng về Ngân hàng Nhà nước, tạo thiếu hụt thanh khoản cục bộ trên thị trường liên ngân hàng. Nhà đầu tư nước ngoài cũng có xu hướng rút vốn khỏi các thị trường chứng khoán châu Á, trong đó có Việt Nam. Năm 2025, khối ngoại bán ròng 5,2 tỷ USD trên thị trường chứng khoán và tiếp tục bán ròng thêm 1,2 tỷ USD trong quý I/2026.

“Ngoài ra, các tổ chức tín dụng chủ động mua lại trái phiếu trước hạn và giảm phát hành mới trong bối cảnh nền lãi suất tăng. Trong khi đó, các kênh đầu tư khác như vàng, bạc, ngoại tệ, chứng khoán, bất động sản hay tài sản mã hóa trở nên hấp dẫn hơn so với lãi suất tiền gửi, kéo dòng tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng”, ông Lực nói.

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế cho biết, theo phân tích sơ bộ, chỉ trong hai tháng đầu năm 2026, lượng tiền gửi bị người dân rút khỏi hệ thống ngân hàng đã tương đương cả năm 2025. Điều đó cho thấy, lãi suất thấp có thể giúp doanh nghiệp “dễ thở” hơn trong ngắn hạn, nhưng nếu nền vốn đầu vào của hệ thống ngân hàng ngày càng căng thẳng, việc duy trì “tiền rẻ” trong thời gian dài sẽ tạo áp lực rất lớn cho mục tiêu ổn định thị trường tài chính và an toàn hệ thống. Nói cách khác, chính sách tiền tệ có thể hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng không thể thay thế những giải pháp mang tính nền tảng hơn.

Cần cấu trúc lại các kênh dẫn vốn

Ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế quốc gia cao cấp của Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam cho rằng, hiện nền kinh tế đang dựa vào hai kênh cung ứng tín dụng chính là ngân hàng và trái phiếu. Tuy nhiên, mỗi kênh có một lợi thế rất khác nhau và nếu không phân bổ đúng chức năng, áp lực sẽ dồn quá lớn lên hệ thống ngân hàng.

Với ngân hàng, tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian giữa người gửi tiền và người đi vay. Hệ thống này có lợi thế ở khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, từ rất ngắn đến vài năm, sau đó tổng hợp lại để cho vay. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất cũng nằm ở chính cấu trúc này: nguồn vốn đầu vào chủ yếu là ngắn hạn và thiếu ổn định.

Trong khi đó, kênh trái phiếu tạo ra mối quan hệ trực tiếp hơn giữa người có vốn và bên đi vay. Đây là kênh phù hợp hơn với tín dụng trung và dài hạn, bởi nhà đầu tư có thể chấp nhận cho vay trong thời gian dài, còn các điều kiện vay như lãi suất và kỳ hạn thường được xác lập ngay từ đầu và duy trì ổn định trong suốt vòng đời khoản vay. Điều này đặc biệt quan trọng với các dự án thâm dụng vốn, thời gian thu hồi dài như hạ tầng, năng lượng hay công nghiệp quy mô lớn.

Về nguyên lý, ông Hùng cho biết, tín dụng ngắn và trung hạn nên đi qua ngân hàng, còn tín dụng dài hạn nên được huy động qua thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam lại đang lệch khỏi nguyên lý này. Dòng vốn dài hạn vẫn chủ yếu đi qua hệ thống ngân hàng, trong khi kênh trái phiếu còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Đáng chú ý hơn, hơn một nửa lượng trái phiếu trên thị trường hiện nay lại do chính các ngân hàng phát hành. Điều đó đồng nghĩa với việc dòng vốn trực tiếp từ nhà đầu tư trái phiếu vào khu vực doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh vẫn còn rất hạn chế. Nói cách khác, thị trường vốn chưa thực sự chia sẻ được gánh nặng với hệ thống tín dụng.

Từ góc nhìn của ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ của UOB Việt Nam, bên cạnh các kênh truyền thống như vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, còn một dòng vốn rất quan trọng nhưng thường chưa được nhắc đến đầy đủ, đó là dòng vốn xuyên biên giới thông qua hệ thống các định chế tài chính quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam.

Đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, dư địa thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường trái phiếu Việt Nam còn rất lớn, đặc biệt là trái phiếu chính phủ. Hiện tỷ lệ nắm giữ trái phiếu chính phủ Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài mới chiếm khoảng 1 - 2% tổng giá trị trái phiếu trên thị trường, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tại Thái Lan, tỷ lệ này vào khoảng 10%, còn tại Malaysia và Indonesia là 20 - 25%. Theo ông Quang, khoảng cách đó cho thấy dư địa huy động vốn dài hạn từ bên ngoài còn rất rộng và nếu có các giải pháp đủ mạnh để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào thị trường trái phiếu chính phủ, đây sẽ là một nguồn lực rất lớn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.

Tương tự, thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng còn nhiều dư địa để thu hút dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Quang, điều mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất hiện nay là hệ thống hạ tầng đánh giá rủi ro tín dụng, cơ chế định giá và đường cong lãi suất chuẩn trên thị trường. Đây chính là nền tảng để nhà đầu tư nước ngoài xây dựng mô hình đánh giá rủi ro, định giá tài sản và tạo dựng niềm tin khi tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.

“Nếu các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phối hợp cùng các thành viên thị trường để hoàn thiện hạ tầng định giá và xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho cả thị trường tiền tệ ngắn hạn lẫn thị trường vốn dài hạn, khả năng thu hút dòng vốn mới sẽ được cải thiện đáng kể”, ông Quang nêu quan điểm.

Rõ ràng, muốn tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam không thể tiếp tục đặt hầu hết kỳ vọng vào tín dụng ngân hàng và mặt bằng lãi suất thấp. Khi tín dụng ngân hàng đã gần chạm giới hạn, câu trả lời không nằm ở việc hạ thêm lãi suất, mà ở việc phát triển một thị trường vốn đủ sâu để chia sẻ nhiệm vụ cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Hồng Dung

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục