Cần tăng cường “bộ đệm” dự phòng nợ xấu

(ĐTCK) Trong bối cảnh áp lực lãi vay gia tăng và khả năng trả nợ của khách hàng suy yếu, nợ xấu tại nhiều ngân hàng đã nhích lên trong quý I/2026. Đáng chú ý, “bộ đệm” dự phòng rủi ro tại không ít ngân hàng, kể cả một số nhà băng quy mô lớn, đang có xu hướng suy giảm.
Ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn tái cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn hệ thống. Ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn tái cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn hệ thống.

Áp lực nợ xấu gia tăng

Bức tranh chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong quý I/2026 đang cho thấy áp lực ngày càng rõ nét khi nợ xấu gia tăng trên diện rộng tại nhiều tổ chức tín dụng.

Sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng mạnh nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế, nhiều khoản vay bắt đầu bước vào giai đoạn sàng lọc thực chất hơn, kéo theo áp lực phân loại nợ và trích lập dự phòng gia tăng.

Theo thống kê, gần 30.000 tỷ đồng nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) đã tăng thêm trong 3 tháng đầu năm tại 27 ngân hàng niêm yết công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026. Tổng dư nợ xấu toàn nhóm ngân hàng này tăng lên hơn 292.000 tỷ đồng, tương đương 1,99% tổng dư nợ cho vay khách hàng, cao hơn mức 1,85% vào cuối năm 2025.

Giới phân tích tài chính cho rằng, diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh doanh nghiệp và người dân vẫn chịu áp lực lớn về dòng tiền sau nhiều năm nền kinh tế liên tiếp đối mặt với các cú sốc từ dịch bệnh, đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động địa chính trị, lãi suất tăng và thị trường bất động sản suy giảm thanh khoản. Đồng thời, mặt bằng lãi suất tăng lên từ quý III/2025 đến nay khiến áp lực trả nợ của người vay tăng.

Xét về quy mô tuyệt đối, BIDV hiện dẫn đầu toàn ngành với hơn 42.655 tỷ đồng nợ xấu, tăng gần 7.700 tỷ đồng sau ba tháng. Sacombank ghi nhận hơn 41.498 tỷ đồng, VPBank hơn 37.284 tỷ đồng, trong khi Vietcombank vượt 10.800 tỷ đồng nợ xấu.

Một số nhà băng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ vượt mức 3% như Eximbank (3,07%), BVBank (3,11%), Saigonbank (3,52%), VPBank (3,58%), PGBank (4,03%), Sacombank (6,62%), NCB (7,25%, giảm so với mức 8,63% cuối năm 2025).

Ngược lại, VietinBank, VietABank, MSB, VIB, Nam A Bank có tỷ lệ nợ xấu giảm từ 0,02-0,34% trong quý đầu năm nay.

Vietcombank tiếp tục là ngân hàng có chất lượng tài sản dẫn đầu với tỷ lệ nợ xấu thấp nhất (0,62%) trong số 27 ngân hàng đã công bố.

Trong năm 2026, Vietcombank đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1,5%. Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Thanh Tùng cho biết, tuy đặt mục tiêu như vậy nhưng đây là mức thấp so với mặt bằng chung của hệ thống các ngân hàng, nhất là ngân hàng thương mại quy mô lớn.

Theo ông Tùng, đây là con số phù hợp trong bối cảnh diễn biến thị trường đang rất phức tạp, từ tình hình kinh tế vĩ mô đến thị trường quốc tế. Điều này tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế - cũng là những lĩnh vực Vietcombank đang cấp tín dụng.

Hai ngân hàng tiếp theo có tỷ lệ nợ xấu thấp lần lượt là ABBank với 0,85% (ngân hàng riêng lẻ), ACB với 0,97%, tương đương với cuối năm trước.

Nhóm ngân hàng duy trì chất lượng tài sản ở mức tích cực còn có Techcombank (tỷ lệ nợ xấu 1,16%), VietABank, MB, Nam A Bank, LPBank…

Khi nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tích lũy dự phòng, khả năng chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc tín dụng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

Xét trên toàn hệ thống, diễn biến nợ xấu cho thấy sự phân hóa về chất lượng tài sản đang ngày càng rõ nét, đặc biệt giữa nhóm ngân hàng có khẩu vị tín dụng thận trọng và nhóm tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất, dòng tiền.

Sự phân hóa này được cho là sẽ còn rõ nét hơn trong bối cảnh áp lực chi phí vốn gia tăng và khả năng trả nợ của doanh nghiệp chưa phục hồi đồng đều.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi nhận định, diễn biến nợ xấu trong quý I/2026 phản ánh rõ độ trễ của nền kinh tế sau nhiều năm tích tụ khó khăn, hơn là một cú sốc bất thường riêng của ngành ngân hàng.

Sức chống chịu của doanh nghiệp đã bị bào mòn sau giai đoạn đại dịch, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, xung đột địa chính trị kéo dài cùng áp lực chi phí vốn gia tăng, khiến khả năng trả nợ suy giảm.

Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng tăng trở lại từ quý IV/2025 và duy trì đến những tháng đầu năm 2026, qua đó làm gia tăng đáng kể áp lực tài chính đối với nhiều doanh nghiệp.

Đặc biệt, những lĩnh vực sử dụng đòn bẩy tài chính lớn như bất động sản, xây dựng, công nghiệp chế biến hay thương mại đang chịu áp lực kép khi chi phí vốn tăng lên nhưng sức cầu phục hồi chưa đồng đều.

Ông Huy cho rằng, điều thị trường đang chứng kiến hiện nay là quá trình tái cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng và yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống trong trung, dài hạn. Theo đó, sự phân hóa giữa các ngân hàng sẽ ngày càng rõ rệt.

Những ngân hàng có nền tảng quản trị rủi ro tốt, tỷ lệ dự phòng cao, cơ cấu khách hàng đa dạng và chiến lược tín dụng thận trọng vẫn duy trì được khả năng chống chịu tương đối tích cực.

Ngược lại, áp lực sẽ lớn hơn với các ngân hàng từng tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc tập trung nhiều vào các lĩnh vực nhạy cảm như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và tín dụng tiêu dùng.

Theo kết quả điều tra do Ngân hàng Nhà nước thực hiện, các tổ chức tín dụng dự báo tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm nhẹ trong quý II, nhưng tính chung cả năm 2026, áp lực nợ xấu có thể gia tăng do quan ngại rủi ro của khách hàng tăng.

Bộ đệm dự phòng mỏng dần

Trong khi xu hướng nợ xấu gia tăng, một xu hướng đáng chú ý khác là tỷ lệ bao phủ nợ xấu (chỉ tiêu phản ánh khả năng hấp thụ rủi ro của ngân hàng) đang giảm mạnh.

Theo thống kê, tỷ lệ bao phủ nợ xấu bình quân toàn hệ thống giảm từ mức 83,3% vào cuối năm 2025 xuống còn 74,9% vào cuối quý I/2026. Điều này đồng nghĩa rằng “bộ đệm” dự phòng của nhiều ngân hàng đã mỏng đi đáng kể chỉ sau một quý. Trong đó, một số ngân hàng ghi nhận mức giảm sâu.

Cụ thể, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của TPBank giảm từ 92,5% xuống còn 68,4%; Bac A Bank giảm từ 107,5% xuống 67,9%; PGBank giảm từ 51,2% xuống còn 31,1%; SHB giảm từ 82,4% xuống 71,2%; BIDV giảm từ gần 100% xuống 86,9%.

Saigonbank tiếp tục nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp nhất khi chỉ còn 29,3%, trong khi Eximbank giảm còn 37,8%. NCB dù cải thiện nhẹ nhưng mức bao phủ nợ xấu vẫn ở mức rất thấp, chỉ 18,1%.

Việc triển khai các chuẩn mực Basel II và hướng tới Basel III tại không ít tổ chức tín dụng vẫn chưa thực sự đi vào chiều sâu. Ðiều này khiến chất lượng tăng trưởng tài sản chưa theo kịp tốc độ mở rộng tín dụng.

Việc tỷ lệ bao phủ nợ xấu suy giảm phản ánh áp lực trích lập dự phòng ngày càng lớn trong bối cảnh chất lượng tài sản đi xuống. Khi nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tích lũy dự phòng, khả năng chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc tín dụng cũng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

Chẳng hạn, lợi nhuận trước thuế quý I/2026 của Eximbank chỉ đạt 338 tỷ đồng, giảm gần 60% so với cùng kỳ, thực hiện được 22,3% kế hoạch lợi nhuận năm. Nguyên nhân chính của việc sụt giảm lợi nhuận trong kỳ là lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm 31%; đồng thời, chi phí dự phòng rủi ro tăng gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước.

Lợi nhuận trước thuế của Sacombank cũng giảm về hơn 2.100 tỷ đồng trong quý I/2026, giảm 42,7% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này là do Ngân hàng tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro, từ 195 tỷ đồng trong quý I/2025 lên 2.024 tỷ đồng trong quý I/2026…

Đây cũng là lý do nhiều ngân hàng bắt đầu thận trọng hơn trong chiến lược tín dụng thời gian gần đây, đặc biệt với các phân khúc có hệ số rủi ro cao như bất động sản, cho vay tiêu dùng hoặc khách hàng doanh nghiệp có dòng tiền yếu.

Trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao thời điểm cuối quý I/2026, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với hơn 253%, mặc dù có giảm so với cuối năm 2025. VietinBank đưa tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng hơn 8,3 điểm phần trăm lên 167%, xếp thứ hai.

Techcombank xếp thứ ba trong nhóm 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026. Bên cạnh tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 129,3%, Techcombank cũng duy trì các chỉ tiêu an toàn ở mức tích cực như hệ số an toàn vốn (CAR) theo Basel II đạt 15,2% và tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) ở mức 80,5%. Điều này phản ánh cách tiếp cận thận trọng hơn trong quản trị rủi ro của ngân hàng.

Hai ngân hàng còn lại trong Top 5 có tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao là ABBank với hơn 122% và ACB với 114%.

Ngoài 5 ngân hàng kể trên, Top 10 còn có sự góp mặt của MB (92,2%), VietABank (92,6%), BIDV (86,9%), Kienlongbank (85,5%), SHB (71,2%). Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm nhẹ so với cuối năm 2025.

Theo TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, nhiều ngân hàng vẫn chưa xây dựng được nền tảng quản trị rủi ro tín dụng đủ vững, dù tăng trưởng tín dụng liên tục ở mức cao.

Việc triển khai các chuẩn mực Basel II và hướng tới Basel III tại không ít tổ chức tín dụng vẫn chưa thực sự đi vào chiều sâu. Điều này khiến chất lượng tăng trưởng tài sản chưa theo kịp tốc độ mở rộng tín dụng.

Vì thế, nợ xấu gia tăng không chỉ tác động tới lợi nhuận mà còn gây áp lực lên thanh khoản hệ thống, bởi dòng tiền cũng sẽ bị kẹt trong các khoản vay khó thu hồi, thay vì quay vòng trở lại nền kinh tế.

Dự báo về xu hướng nợ xấu thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, nợ xấu toàn hệ thống đến cuối năm 2026 nhiều khả năng sẽ tăng so với mặt bằng giai đoạn trước, song vẫn trong vùng có thể kiểm soát nếu kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, đầu tư công được thúc đẩy hiệu quả, xuất khẩu phục hồi tích cực và niềm tin thị trường cải thiện dần.

VIS Rating nhận định, bức tranh ngành ngân hàng năm 2026 sẽ tiếp tục phân hóa. Các ngân hàng lớn được kỳ vọng duy trì ổn định nhờ nền tảng khách hàng tốt hơn và sự hỗ trợ chính sách.

Theo VIS Rating, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành đã giảm từ 2,3% năm 2024 xuống 2,1% năm 2025 nhờ thị trường bất động sản phục hồi và khả năng trả nợ cải thiện ở một số nhóm khách hàng.

Một số ngân hàng ghi nhận chất lượng tài sản cải thiện nhờ nợ xấu vay mua nhà giảm hoặc khách hàng doanh nghiệp phục hồi dòng tiền như ACB, Techcombank, VPBank, MB và VietinBank.

Trong khi đó, các ngân hàng khác như VIB, OCB, TPBank hay ABBank đã chủ động xử lý nợ thông qua xóa nợ và tái cơ cấu tài sản. Ngược lại, áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu tại các ngân hàng có dư nợ lớn liên quan đến nhóm doanh nghiệp xuất khẩu như Eximbank, MSB và Sacombank.

Công ty Chứng khoán MB dự báo, chất lượng tài sản toàn ngành ngân hàng năm 2026 dự kiến không biến động mạnh so với năm trước. Áp lực nợ xấu có thể gia tăng khi lãi suất cho vay tăng trở lại, trong khi tín dụng bất động sản được kiểm soát chặt hơn, làm gia tăng rủi ro đảo nợ ở nhóm doanh nghiệp địa ốc và khách hàng vay mua nhà.

Tuy nhiên, chất lượng tài sản đã cải thiện trong năm 2025 sẽ giúp nhiều ngân hàng chưa phải tăng mạnh trích lập dự phòng trong ngắn hạn. Tỷ lệ trích lập toàn ngành có khả năng sẽ duy trì quanh mức 1,5% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục trên 80%.

Bình Minh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục