Bảo hiểm tiền gửi: Giữ niềm tin trước khi phải xử lý đổ vỡ

(ĐTCK) Trong lĩnh vực ngân hàng, an toàn hệ thống không thể bắt đầu khi ngân hàng đã đổ vỡ, mà phải từ việc giữ niềm tin trước khi khủng hoảng xảy ra.
Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chủ động hơn, mạnh hơn và có trách nhiệm hệ thống rõ ràng hơn. Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chủ động hơn, mạnh hơn và có trách nhiệm hệ thống rõ ràng hơn.

Bảo vệ người gửi tiền là bảo vệ nền tảng ổn định hệ thống

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) không đơn thuần là cơ chế chi trả khi tổ chức tín dụng đổ vỡ, mà là một thiết chế công giữ vai trò bảo vệ niềm tin thị trường, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Luật BHTG năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/5/2026, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách: Từ “chi trả khi đổ vỡ” sang “phòng ngừa, can thiệp sớm và xử lý chủ động”, đưa Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam trở thành một cấu phần quan trọng hơn trong mạng an toàn tài chính quốc gia.

Trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng, yếu tố bị tác động trước tiên thường không chỉ là năng lực tài chính của ngân hàng, mà chính là niềm tin của người gửi tiền đối với sự an toàn của hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng là lĩnh vực đặc biệt bởi hoạt động dựa trên niềm tin xã hội. Phần lớn nguồn vốn của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) đến từ tiền gửi của người dân và doanh nghiệp. Khi niềm tin được duy trì, dòng tiền gửi ổn định, thanh khoản được bảo đảm và hệ thống có điều kiện thực hiện chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Ngược lại, khi niềm tin suy giảm, hành vi rút tiền hàng loạt có thể diễn ra rất nhanh, biến một khó khăn cục bộ thành rủi ro hệ thống. Vì vậy, bảo vệ người gửi tiền chưa bao giờ chỉ là câu chuyện xử lý hậu quả sau phá sản. Đó là vấn đề của ổn định tài chính vĩ mô.

BHTG ra đời chính từ nhu cầu đó. Đây là một chính sách công đặc thù nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền khi TCTD mất khả năng chi trả hoặc phá sản, đồng thời góp phần duy trì sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Trong mạng an toàn tài chính quốc gia, BHTG là công cụ bảo vệ trực tiếp đối với người gửi tiền, qua đó củng cố niềm tin công chúng đối với hệ thống TCTD.

Sau hơn một thập kỷ thực thi Luật BHTG năm 2012, chính sách BHTG tại Việt Nam đã góp phần quan trọng trong bảo vệ người gửi tiền, duy trì ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại các TCTD.

Bên cạnh chức năng chi trả bảo hiểm, pháp luật hiện hành cũng đã quy định nhiều nhiệm vụ quan trọng của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam như cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ, tham gia kiểm soát đặc biệt…

Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng ngày càng có nhiều biến động, rủi ro có khả năng lan truyền nhanh hơn và yêu cầu xử lý TCTD yếu kém ngày càng cao, chính sách BHTG cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chủ động hơn.

Theo đó, BHTG không chỉ thực hiện chức năng bảo vệ người gửi tiền khi xảy ra đổ vỡ, mà còn cần tham gia tích cực vào quá trình phòng ngừa rủi ro, hỗ trợ can thiệp sớm và góp phần hạn chế nguy cơ đổ vỡ TCTD.

Hoàn thiện cơ chế chi trả theo hướng kịp thời và chủ động hơn

Điểm đột phá lớn của Luật BHTG năm 2025 nằm ở việc xác lập rõ hơn vai trò chủ động của tổ chức BHTG trong xử lý TCTD yếu kém.

Theo Luật BHTG năm 2012, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt, hoặc văn bản chấm dứt áp dụng, hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD là tổ chức tham gia BHTG vẫn lâm vào tình trạng phá sản; hoặc khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia BHTG mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.

Ông Đặng Duy Cường, Tổng giám đốc Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam

Ông Đặng Duy Cường, Tổng giám đốc Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam

Trên thực tế, quá trình xử lý TCTD yếu kém trong một số trường hợp có thể kéo dài, ảnh hưởng đến thời điểm người gửi tiền nhận được khoản tiền bảo hiểm. Điều này không chỉ tác động đến quyền lợi của người gửi tiền, mà còn có thể ảnh hưởng đến tâm lý thị trường và niềm tin đối với hệ thống ngân hàng.

Luật BHTG năm 2025 đã khắc phục căn bản hạn chế này khi bổ sung thêm hai thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Thứ nhất, khi Ngân hàng Nhà nước đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của TCTD đang được kiểm soát đặc biệt và tổ chức đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính kiểm toán gần nhất.

Thứ hai, trong trường hợp cần bảo đảm an toàn hệ thống TCTD, trật tự và an toàn xã hội, sau khi báo cáo Chính phủ quyết định, Ngân hàng Nhà nước có văn bản thông báo cho tổ chức BHTG thực hiện chi trả bảo hiểm mà không cần chờ hoàn tất thủ tục phá sản.

Đây là thay đổi có ý nghĩa rất lớn. Người gửi tiền được bảo vệ sớm hơn, nhanh hơn và thực chất hơn. Tổ chức BHTG không còn chỉ thực hiện vai trò ở giai đoạn đổ vỡ TCTD, mà tham gia sớm hơn ngay từ khi xuất hiện dấu hiệu mất an toàn của hệ thống.

Cùng với đó, thời hạn chi trả bảo hiểm cũng được rút ngắn từ tối đa 60 ngày xuống còn tối đa 45 ngày kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Quy trình chi trả được cụ thể hóa, với thời hạn xác định cho từng bước xử lý hồ sơ, kiểm tra chứng từ và lập phương án chi trả. Điều này giúp nâng cao tính minh bạch, tăng trách nhiệm thực thi và bảo đảm khả năng tiếp cận quyền lợi của người gửi tiền.

Thông qua các sửa đổi này, vai trò của BHTG tiếp tục được tăng cường theo hướng chủ động hơn trong việc bảo vệ người gửi tiền, hỗ trợ xử lý TCTD yếu kém và góp phần giữ vững an toàn hệ thống ngân hàng..

Hạn mức trả tiền bảo hiểm không chỉ là một con số

Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm của Luật BHTG năm 2025 là cơ chế xác định hạn mức trả tiền bảo hiểm. Đây là yếu tố quyết định trực tiếp phạm vi và mức độ bảo vệ đối với người gửi tiền.

Nếu hạn mức quá thấp, chính sách BHTG sẽ mất dần ý nghĩa thực chất; còn nếu hạn mức quá cao mà thiếu cân đối có thể làm suy giảm kỷ luật thị trường, tăng nguy cơ rủi ro đạo đức. Vì vậy, việc xác định hạn mức phải vừa bảo vệ phần lớn người gửi tiền, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế.

Tính tới nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng khoảng 13 lần trong 25 năm, từ khoảng 390 USD năm 2000 lên trên 5.000 USD năm 2025. Năm 2000, hạn mức trả tiền bảo hiểm là 30 triệu đồng, GDP bình quân đầu người khoảng 5,7 triệu đồng/người/năm, tương ứng tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người khoảng 5,2 lần.

Năm 2025, hạn mức trả tiền bảo hiểm là 125 triệu đồng, GDP bình quân đầu người khoảng 125,5 triệu đồng/người/năm, tương ứng tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người chỉ còn khoảng 1 lần. Điều đó cho thấy mức bảo vệ thực chất của chính sách đã bị thu hẹp đáng kể theo thời gian.

Tại thời điểm 31/12/2025, tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm của toàn hệ thống đạt hơn 10 triệu tỷ đồng, tăng mạnh so với các năm trước; số người gửi tiền được bảo hiểm lên tới gần 139 triệu người.

Bảo vệ người gửi tiền chính là bảo vệ nền tảng ổn định của cả nền kinh tế.

Bảo vệ người gửi tiền chính là bảo vệ nền tảng ổn định của cả nền kinh tế.

Theo nghiên cứu của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, khi tính toán tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ cần loại trừ nhóm người gửi tiền có số dư dưới 50.000 đồng nhằm phản ánh sát hơn mức độ bảo vệ thực chất của chính sách.

Sau khi loại trừ nhóm này, với hạn mức trả tiền bảo hiểm là 125 triệu đồng, tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ đạt 87,61% - thấp hơn đáng kể so với mức bình quân toàn cầu 98% và thấp hơn định hướng 92-95% của Chiến lược phát triển BHTG.

Tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ cũng chỉ đạt 8,25%, thấp hơn rất nhiều mức bình quân toàn cầu khoảng 47%. Rõ ràng, hạn mức hiện hành đã không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế và quy mô hệ thống ngân hàng.

Điểm mới của Luật BHTG năm 2025 bổ sung cơ chế xác định hạn mức chi trả theo từng thời kỳ và trong trường hợp đặc biệt.

Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trong từng thời kỳ; đồng thời, trong trường hợp cần bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, trật tự và an toàn xã hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được quyết định chi trả vượt hạn mức, tối đa bằng toàn bộ các khoản tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG. Cơ chế này giúp việc điều chỉnh hạn mức trở nên linh hoạt hơn, phản ứng nhanh hơn với biến động thị trường và yêu cầu ổn định hệ thống.

Đây là một “dư địa chính sách” đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng thông tư mới về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm với phương án đề xuất nâng hạn mức từ 125 triệu đồng lên 350 triệu đồng.

Nếu áp dụng mức này, tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ dự kiến tăng lên 93,68% - đạt khung khuyến nghị của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI); tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người tăng lên 2,8 lần - tiệm cận dần mức bình quân toàn cầu là 3,3 lần.

Nhìn rộng hơn, hạn mức trả tiền bảo hiểm không chỉ là một con số, mà đó là “neo niềm tin” của người gửi tiền. Khi người dân tin rằng khoản tiết kiệm của mình được bảo vệ đủ mạnh, hành vi rút tiền hàng loạt sẽ được hạn chế đáng kể và trong lĩnh vực ngân hàng, đôi khi niềm tin còn quan trọng hơn cả thanh khoản.

Tái định vị vai trò của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam

Luật BHTG năm 2025 không chỉ sửa cơ chế chi trả hay hạn mức trả tiền bảo hiểm, mà còn tái định vị vai trò của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam trong tổng thể mạng an toàn tài chính quốc gia.

Lần đầu tiên, Luật dành riêng một chương quy định về việc tổ chức BHTG tham gia xử lý TCTD được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt và xử lý sự cố, khủng hoảng.

Khi niềm tin bị tổn thương, mọi biện pháp xử lý kỹ thuật đều trở nên đắt đỏ hơn rất nhiều. BHTG vì thế không chỉ là chính sách chi trả, mà còn là chính sách giữ niềm tin và góp phần đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống tài chính - ngân hàng.

Theo đó, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam được trao thêm nhiều công cụ quan trọng: Cho vay đặc biệt đối với TCTD bị rút tiền hàng loạt; cho vay phục hồi; cho vay phục vụ chuyển giao bắt buộc; mua trái phiếu dài hạn của TCTD nhận chuyển giao bắt buộc; cử người quản lý, điều hành tại quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt; thực hiện kiểm tra tổ chức tham gia BHTG theo kế hoạch và nội dung do Ngân hàng Nhà nước giao.

Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam cũng được vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất 0%, không cần tài sản bảo đảm khi quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để chi trả bảo hiểm.

Song song với đó là việc mở rộng danh mục đầu tư, cho phép đầu tư vào trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại cổ phần do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; gửi tiền tại các ngân hàng thương mại nói trên, góp phần nâng cao năng lực tài chính và khả năng ứng phó của tổ chức BHTG.

Những thay đổi này cho thấy vai trò của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chủ động hơn, mạnh hơn và có trách nhiệm hệ thống rõ ràng hơn.

Trong một hệ thống ngân hàng hiện đại, BHTG cần vận hành đồng bộ với giám sát ngân hàng, xử lý TCTD yếu kém và quản trị rủi ro vĩ mô nhằm góp phần củng cố an toàn hệ thống tài chính quốc gia.

An toàn hệ thống không thể bắt đầu khi ngân hàng đã đổ vỡ, mà phải bắt đầu từ việc giữ niềm tin trước khi khủng hoảng xảy ra. Luật BHTG năm 2025 chính là bước đi quan trọng theo hướng đó.

Trong hoạt động ngân hàng, bảo vệ người gửi tiền chính là bảo vệ nền tảng ổn định của cả nền kinh tế. Khi niềm tin được bảo vệ, hệ thống sẽ có sức chống chịu tốt hơn trước biến động.

Khi niềm tin bị tổn thương, mọi biện pháp xử lý kỹ thuật đều trở nên đắt đỏ hơn rất nhiều. BHTG vì thế không chỉ là chính sách chi trả, mà còn là chính sách giữ niềm tin và góp phần đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống tài chính - ngân hàng.

Đặng Duy Cường
Tổng giám đốc Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục