Bảo hiểm nhân thọ: Chuyển tư duy từ "truyền thông diện rộng" sang "truyền thông trách nhiệm và thực chất"

(ĐTCK) Giáo dục tài chính hiệu quả nhất không phải là những chiến dịch quảng cáo quy mô lớn, mà là việc doanh nghiệp bảo hiểm truyền thông trung thực và người dân được tư vấn đúng, đủ ngay từ khi tiếp cận sản phẩm tại các đại lý.

Truyền thông và giáo dục tài chính là giải pháp căn cơ để thu hẹp khoảng cách giữa quy định pháp luật và nhận thức của công chúng. Đây là những chia sẻ được bà Phạm Thu Phương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho biết tại tọa đàm "Bảo hiểm Nhân thọ: Hiểu đúng để yên tâm" diễn ra ngày 25/8.

Tư duy truyền thông cần thay đổi

Xoay quanh câu hỏi có cần xây dựng một "Chiến lược truyền thông quốc gia" riêng hay không, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho rằng dưới góc độ quản lý nhà nước, mục tiêu cuối cùng là hiệu quả thực thi mang lại lợi ích cho người dân, chứ không phải tên gọi hay hình thức của văn bản.

"Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó cấu phần về truyền thông và nâng cao nhận thức người tiêu dùng đã được định vị rõ. Điều thị trường cần lúc này là một kế hoạch hành động toàn diện, linh hoạt và quyết liệt ngay trong nội ngành bảo hiểm. Việc xây dựng các chương trình truyền thông chuyên sâu, bài bản về bảo hiểm nhân thọ chính là cụ thể hóa chiến lược ngành đã có, vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa tập trung nguồn lực chuyên môn của ngành tài chính mà không gây lãng phí ngân sách hay chồng chéo thủ tục", bà Phương phân tích.

Theo đó, tư duy truyền thông cần chuyển từ "truyền thông diện rộng" sang "truyền thông trách nhiệm và thực chất". Các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện truyền thông trung thực; cơ quan quản lý đã và đang siết chặt các quy định về minh bạch hóa thông tin sản phẩm, đơn giản hóa tóm tắt hợp đồng và chuẩn hóa quy trình tư vấn của đại lý. Giáo dục tài chính hiệu quả nhất không phải là những chiến dịch quảng cáo quy mô lớn, mà là việc người dân được tư vấn đúng, đủ ngay từ khi tiếp cận sản phẩm bảo hiểm tại các đại lý.

Về vấn đề này, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ nhằm tăng cường đạo đức nghề nghiệp đại lý và nâng cao nhận thức người dân về bảo hiểm nhân thọ. Đồng thời, Hiệp hội cũng đóng vai trò đầu mối điều phối các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc ứng phó và xử lý khủng hoảng truyền thông dựa trên từng mức độ ảnh hưởng..

“Chất lượng tư vấn ban đầu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm niềm tin. Ngoài ra còn những nguyên nhân khác, trong đó có câu chuyện về truyền thông chưa cho người dân hiểu về vai trò của bảo hiểm nhân thọ cũng như những gì bảo hiểm nhân thọ đã thực hiện được từ trước đến nay”, ông Ngô Trung Dũng - Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam nhìn nhận.

Tiềm năng phát triển của bảo hiểm nhân thọ

Đề cập đến vị trí của bảo hiểm nhân thọ trong hệ thống an sinh xã hội, bà Phương cho biết, mô hình an sinh bền vững tại các quốc gia đều được xây dựng theo cấu trúc kim tự tháp đa tầng, trong đó bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đóng vai trò lớp sàn an sinh cơ bản, bảo vệ và bao phủ trên diện rộng. Tuy nhiên, trước những biến cố lớn, lớp sàn này có thể chưa bao phủ đầy đủ nhu cầu tài chính phức tạp của mỗi người dân và gia đình.

Cụ thể, đối với bảo hiểm y tế, phạm vi chi trả được xác định theo danh mục thuốc và dịch vụ kỹ thuật đã được phê duyệt, trong khi nhiều người lựa chọn điều trị bệnh hiểm nghèo tại các bệnh viện tuyến đầu, sử dụng thuốc đặc trị thế hệ mới hoặc phương pháp phẫu thuật kỹ thuật cao nằm ngoài danh mục, khiến phần chi phí tự chi trả có thể trở thành gánh nặng tài chính lớn.

Đối với bảo hiểm xã hội, lương hưu hoặc trợ cấp thất nghiệp chủ yếu bảo đảm mức sống tối thiểu; khi rủi ro lớn xảy ra với lao động chính, khoản trợ cấp chỉ hỗ trợ một phần chi phí sinh hoạt cơ bản, khó bù đắp nguồn thu nhập bị mất trong dài hạn.

Trong bối cảnh đó, theo bà Phương, bảo hiểm nhân thọ có vai trò lấp đầy khoảng trống tài chính, không cạnh tranh hay thay thế bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội mà là giải pháp bổ sung cho hai trụ cột an sinh này. Khi hàng triệu gia đình có thêm lớp bảo vệ từ bảo hiểm nhân thọ, áp lực đối với ngân sách nhà nước và hệ thống y tế công sẽ giảm đi rõ rệt, đồng thời góp phần chuyển dịch rủi ro tài chính từ các gia đình sang các định chế tài chính thương mại.

Mặc dù giữ vai trò quan trọng, mức độ bao phủ của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Bà Phương dẫn chứng số liệu thống kê đến hết năm 2025, có hai chỉ số thể hiện rõ khoảng cách giữa tỷ lệ bao phủ thực tế và tiềm năng phát triển.

Chỉ số thứ nhất là tỷ lệ tham gia của người dân. Hiện chỉ khoảng 11-12% tổng dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ, nghĩa là còn rất nhiều người dân chưa có bảo hiểm nhân thọ do các doanh nghiệp tư nhân cung cấp để bảo vệ trước rủi ro tài chính. So với các nước trong khu vực như Singapore, Malaysia hay Thái Lan - nơi tỷ lệ bao phủ thường đạt từ 50% đến hơn 80% dân số - khoảng cách này thể hiện khá rõ.

Chỉ số thứ hai là tỷ lệ tổng doanh thu phí bảo hiểm so với GDP của toàn ngành bảo hiểm, bao gồm cả nhân thọ và phi nhân thọ. Hiện tỷ lệ này mới tương đương khoảng 2-2,5% GDP, trong khi mức bình quân của khối ASEAN đạt trên 3,5% và tại nhóm các nước phát triển thường ở mức 7-10%. Bà Phương cho rằng thực trạng phát triển dưới mức tiềm năng này cần sớm được giải quyết, nhất là trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các yếu tố nền tảng để thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Ngọc Lan

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục