An ninh năng lượng: Thể chế mở đường, doanh nghiệp theo bước

0:00 / 0:00
0:00
Nhằm hiện thực hóa các yêu cầu về đảm bảo an ninh năng lượng, chưa khi nào số lượng văn bản thể chế pháp lý được xây dựng và ban hành về lĩnh vực điện lực lại nhiều như trong năm 2025 vừa qua.

Thúc đẩy xã hội hóa đầu tư ngành điện

Tại Hội nghị triển khai kế hoạch năm 2026 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cách đây ít ngày, ông Đặng Hoàng An, Chủ tịch Hội đồng Thành viên EVN đã kể câu chuyện một tập đoàn lớn của Mỹ khi khảo sát việc đặt trung tâm dữ liệu tại khu vực TP.HCM đã hỏi EVN về khả năng cung cấp 1.000 MW điện với thời gian rất ngắn.

Theo ông An, cùng xu hướng chuyển đổi số, điện hóa nền kinh tế, vấn đề đảm bảo điện cho nền kinh tế thì một mình EVN không thể đảm nhận được, cần có sự chung tay của các nhà đầu tư đến từ khối doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân trong và ngoài nước.

Năm 2025, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu cả nước ước đạt 322,8 tỷ kWh, tăng 4,6% so với năm 2024. Nếu tính khoảng 10 tỷ kWh điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu không qua lưới điện quốc gia thì tổng sản lượng điện là khoảng 332,8 tỷ kWh.

Trong tổng sản lượng này, phần đóng góp thuộc công ty mẹ EVN là 55,01 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng khoảng 17,7%; các nhà máy điện thuộc 3 tổng công ty phát điện mà EVN đang nắm cổ phần từ 90-100% là 75,38 tỷ kWh, chiếm khoảng 24,2%.

Còn lại, các nhà máy điện ngoài EVN gồm cả các doanh nghiệp nhà nước lớn như Petrovietnam, TKV, lẫn các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước đóng góp 180,37 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng khoảng 58%.

Dẫu vậy, các báo cáo được tổng hợp của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2025 cũng cho thấy, còn nhiều điểm nghẽn chờ khai thông để vốn tư nhân chảy mạnh vào ngành điện.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham), cung - cầu điện năng là một bài toán phức tạp, do đó, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa khu vực công và khu vực tư để phát triển hệ thống điện giá cả hợp lý, ổn định và bền vững.

Chia sẻ nhận xét này, Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam cũng cho rằng, Việt Nam cần huy động lượng vốn đầu tư rất lớn, hơn 136 tỷ USD cho hạ tầng điện và truyền tải trong giai đoạn 2026 - 2030. Con số này vượt xa khả năng ngân sách công.

Ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió và Điện mặt trời Lâm Đồng nhận xét, các chính sách hiện chưa đủ độ dài để hấp dẫn đầu tư, điển hình là cho phát triển điện gió và điện mặt trời vừa qua. Đơn cử, khi cơ chế hỗ trợ giá cho năng lượng tái tạo (FIT) đã hết, nhưng cơ chế mới chưa kịp ban hành, khoảng trống chính sách đã làm nản lòng các nhà đầu tư. Đặc biệt là đề xuất hồi tố giá FIT của 173 dự án (trong tổng số 226 dự án, chiếm hơn 3/4) là giọt nước tràn ly khiến hàng chục nhà đầu tư phải cầu cứu lên cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước.

Giá điện cũng được ông Thịnh cho là chưa hợp lý, dẫn đến việc cùng thắng (win-win) không tồn tại; EVN thì lỗ nặng, lũy kế đã lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng; các nhà đầu tư do vậy cũng rất khó khăn trong đàm phán giá điện và giải tỏa công suất khi phần đường dây thuộc trách nhiệm của EVN bị chậm tiến độ.

Đảm bảo điện cho giai đoạn 2026-2030 là nhiệm vụ thách thức, cần tập trung và phải cởi trói các thể chế để đầu tư nguồn điện nhanh hơn và kịp thời hơn.

“Đã từng trong thời gian ngắn, chúng ta đã trở thành cường quốc trong khu vực về năng lượng tái tạo nhờ có chính sách hợp lý. Điều này thể hiện tiềm lực của các doanh nghiệp trong nước, nhất là khối tư nhân, rất lớn. Nếu có chính sách phù hợp họ sẽ sẵn sàng xuống tiền. Việc của Chính phủ là có chính sách phù hợp, đủ dài và có hạ tầng truyền tải đủ lớn để có thể hấp thụ được các dự án mới”, ông Thịnh nói.

Từng đảm nhiệm vị trí Thứ trưởng Bộ Công thương - cơ quan quản lý nhà nước ngành điện, ông Đặng Hoàng An cũng cho hay, đảm bảo điện cho giai đoạn 2026-2030 là nhiệm vụ thách thức, cần tập trung và phải cởi trói các thể chế để đầu tư nguồn điện nhanh hơn và kịp thời hơn.

“EVN sẵn sàng gánh vác các dự án mới mà Nhà nước giao, nhưng các doanh nghiệp nhà nước lớn cũng chỉ có giới hạn trong đầu tư bởi các ràng buộc như vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu là khó thu xếp vốn mới. Vì vậy, EVN cam kết cùng Bộ Công thương tháo gỡ thể chế để thu hút mạnh mẽ đầu tư trong và ngoài nước vào ngành điện”, ông An chia sẻ.

Thống kê của NSMO cho thấy, tới cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện cả nước là khoảng 91.000 MW và theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, vào năm 2030, con số này sẽ là khoảng 130.370 - 143.839 MW, tức là mỗi năm phải có thêm 8.000 - 10.000 MW điện mới. Điều này đòi hỏi tốc độ đầu tư nguồn điện cần phải có lực đẩy mới, khi mà năm 2025, nguồn điện trong nước được bổ sung chỉ tầm 6.400 MW.

Dựng khung pháp lý bền vững

Ông Bùi Văn Thịnh đã điểm danh 3 rào cản chính trong đầu tư phát triển ngành điện. Đó là chồng chéo giữa các quy định của pháp luật, ranh giới giữa đúng và sai rất mong manh, làm các nhà đầu tư rất lo ngại, nhất là nhà đầu tư nước ngoài.

Trước thực trạng chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, nhất là cơ chế, chính sách huy động nguồn lực cho phát triển năng lượng, khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, quy hoạch điều chỉnh thiếu linh hoạt, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc xây dựng văn bản thể chế đã trở thành nhiệm vụ được Bộ Công thương dốc sức triển khai.

Thống kê của Cục Điện lực (Bộ Công thương) cho thấy, trong năm 2025, đã có một khối lượng lớn văn bản thể chế được ban hành cho ngành điện.

Ngoài Nghị quyết 70/NQ-BCT của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quốc hội cũng đã có 2 nghị quyết liên quan đến điện hạt nhân và chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030 được ban hành trong năm 2025.

Ở cấp thực thi, đã có 7 nghị định của Chính phủ nhằm hướng dẫn cụ thể Luật Điện lực 2024, cùng 15 thông tư hướng dẫn được Bộ Công thương ban hành.

Số lượng các văn bản pháp luật liên quan đến ngành điện được Bộ Công thương tham gia soạn thảo và ban hành trong năm 2025 cũng chiếm khoảng 25% khối lượng công việc của toàn Bộ, cho thấy mức độ quan trọng của điện - nhân tố chủ lực trong câu chuyện đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Nhất là khi nền kinh tế đang thực hiện số hóa mạnh mẽ và điện là nền tảng quan trọng để thực hiện việc chuyển đổi này.

Đánh giá cao nỗ lực và quyết tâm để nhanh chóng ban hành khối lượng lớn văn bản pháp lý như trên, các chuyên gia cũng đồng thời nhắc tới áp lực không hề nhỏ trong quá trình triển khai thực thi các văn bản thể chế mới được ban hành để nhanh đạt được mục tiêu mong đợi.

Đặc biệt ở 3 khía cạnh là duy trì được sự cân bằng giữa tốc độ xây dựng và tính ổn định của văn bản; đảm bảo quy trình xây dựng văn bản, cũng như có sự cân bằng giữa tính cấp bách với đổi mới sáng tạo và đột phá.

Trên thực tế, có những văn bản pháp luật ngành điện, chỉ không lâu sau khi được ban hành, đã phải tiến hành sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu mới của nền kinh tế.

Đơn cử, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch Điện VIII) được ban hành vào ngày 15/5/2023 và 2 năm sau đã được tiến hành điều chỉnh quy hoạch vào ngày 15/4/2025.

Ngay cả Luật Điện lực mới được ban hành vào tháng 11/2024 và có hiệu lực từ ngày 1/2/2025, thì ở thời điểm cuối năm 2025, Bộ Công thương đã chuẩn bị bắt tay vào sửa đổi một số điểm cho phù hợp với tình hình mới.

Thực tế này cho thấy, khi thể chế đủ rõ ràng, đủ dài hạn và triển khai thông suốt, nguồn lực xã hội sẽ tự khắc được khơi thông, tạo nền tảng bền vững cho hệ thống điện trong giai đoạn tăng trưởng mới.

Thanh Hương
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục