Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 cao nhất trong các tháng của năm, đạt 88,72 tỷ USD.
Xuất nhập khẩu tháng cuối cùng của năm 2025 tạo nên một kỷ lục mới, với kim ngạch xấp xỉ 89 tỷ USD, tăng 15,1% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 5/1/2026 cho hay.
Với mức thực hiện này, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm qua lên 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, vượt gần chục tỷ USD so với dự tính trước đó. Đây cũng là tháng có kim ngạch xuất nhập khẩu cao nhất trong năm 2025.
Tháng 12 chứng kiến đà tăng chưa từng thấy của xuất khẩu, mang về 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước. Còn tính trong cả quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý III/2025.
Tính chung cả năm 2025, xuất khẩu đạt trên 475 tỷ USD, tăng 17 % so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.
Năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,0% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,2%).
Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu năm 2025
Giá trị (Triệu USD) |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) |
|
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD |
||
Điện tử, máy tính và linh kiện |
107.748 |
48,4 |
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
59.047 |
13,2 |
Điện thoại các loại và linh kiện |
56.710 |
5,2 |
Hàng dệt, may |
39.642 |
7,0 |
Giày dép |
24.204 |
5,8 |
Phương tiện vận tải và phụ tùng |
17.530 |
15,0 |
Gỗ và sản phẩm gỗ |
17.205 |
5,7 |
Thủy sản |
11.286 |
12,4 |
Chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12 đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước. Trong quý IV/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý III/2025.
Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%,
Có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 9 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,8%).
Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu năm 2025
Giá trị (Triệu USD) |
Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%) |
||||
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD |
|||||
Điện tử, máy tính và linh kiện |
150.697 |
40,7 |
|||
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
61.027 |
24,8 |
|||
Vải |
15.199 |
1,9 |
|||
Chất dẻo |
12.532 |
6,3 |
|||
Kim loại thường khác |
11.374 |
18,9 |
|||
Điện thoại các loại và linh kiện |
11.259 |
8,2 |
|||
Sắt thép |
11.213 |
-10,9 |
|||
Sản phẩm chất dẻo |
10.870 |
22,8 |
|||
Ô tô |
10.670 |
25,6 |
|||
Như vậy, tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD (năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.
Xuất khẩu sang các thị trường chủ lực duy trì đà tăng ấn tượng, trong đó Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 153,2 tỷ USD. Xuất khẩu sang Trung Quốc 70,4 tỷ USD, tăng 14,8%, sang EU đạt 56,2 tỷ USD, tăng 8,5%, sang ASEAN 38,4 tỷ USD, tăng 3,8%, Hàn Quốc 28,9 tỷ USD, tăng 12,7%, Nhật Bản tăng 8,3%, với 26,8 tỷ USD.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch năm qua đạt 186,0 tỷ USD. Trong năm 2025, xuất siêu sang Mỹ đạt 133,9 tỷ USD tăng 28,2% so với năm trước; xuất siêu sang EU 38,6 tỷ USD, tăng 10,1%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,1 tỷ USD, giảm 30,1%.
Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc 115,6 tỷ USD, tăng 39,6%; nhập siêu từ Hàn Quốc 31,6 tỷ USD, tăng 4,3%; nhập siêu từ ASEAN 14,2 tỷ USD, tăng 42,4%.