Thị trường thu hẹp, giá giảm
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang tác động ngày càng rõ nét đến nền kinh tế nước ta ở nhiều mặt và theo đánh giá của Bộ Công thương, hệ lụy của những khó khăn sẽ rơi vào năm 2009.
Các DN xuất khẩu cho biết, ngay từ cuối quý III, đầu quý IV/2008, các đơn hàng xuất khẩu dệt may, hạt điều, đồ gỗ… vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản đã giảm 20 - 30%; hàng thủy sản xuất khẩu vào Nga bị ứ đọng do nhiều khách hàng không có khả năng thanh toán...
Năm 2009, ngoài khó khăn về thị trường, các DN còn phải đối mặt với nguy cơ giá xuất khẩu giảm mạnh, do nhu cầu nhập khẩu và khả năng thanh toán của các thị trường sụt giảm.
Theo phân tích của Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng nông - lâm - thủy sản (cà phê, hạt tiêu, đồ gỗ, thủy sản…), khoáng sản đã được lợi thế về giá trong năm 2008 sẽ giảm sút mạnh về giá trị trong năm 2009 (khoảng 30 - 40%) gây ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu. Trong khi đó, năng lực sản xuất nhiều mặt hàng nông sản, khoáng sản đã đến "ngưỡng", khó có khả năng tăng trưởng như lúa gạo, cà phê, cao su, dầu thô, than… Đặc biệt, lượng dầu thô xuất khẩu năm 2009 sẽ giảm 3,3 - 4 triệu tấn do phục vụ Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Các mặt hàng công nghiệp có kim ngạch lớn, được coi là "những mũi nhọn xuất khẩu" như dệt may, da giày cũng sẽ gặp khó khăn, bởi nhiều hàng rào phi thuế quan và biện pháp bảo hộ tinh vi đã và đang được nhiều nước dựng lên nhằm bảo hộ hàng sản xuất trong nước.
Bộ Công thương nhận định, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 có thể chỉ đạt 66 - 67 tỷ USD, tăng khoảng 5% so với năm 2008.
Hợp lực "giải cứu" xuất khẩu
Nhận diện trước những khó khăn sắp tới, Bộ Công thương đã đưa ra các phương án "giải cứu" cho xuất khẩu. Theo đó, bộ này đề nghị tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường; đề nghị Bộ Tài chính tạm thời không áp dụng thuế nhập khẩu (thay việc tạm cho nợ thuế 275 ngày) các mặt hàng nguyên liệu, đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu… nhằm tạo điều kiện cho DN giảm chi phí sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh; kiến nghị lùi thời hạn thu thuế xuất khẩu đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu gỗ nhập khẩu và tiến tới loại bỏ thuế xuất khẩu này; bổ sung danh mục mặt hàng và lĩnh vực được vay vốn đầu tư sản xuất gồm: gạo, dệt may, giày dép, sản phẩm nhựa, xe đạp và phụ tùng, cao su, nhóm hàng cơ khí, sắt thép, các sản phẩm từ gang thép, vật liệu xây dựng và túi xách, va ly, ô dù.
Trong một động thái khác, Bộ Tài chính vừa công bố giảm khá mạnh các mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu… Theo đó, lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước bằng VND chỉ còn 10,2%/năm, bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi là 6,9%/năm. Lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu của Nhà nước bằng VND là 10,8%/năm, bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi là 6,9%/năm. Mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư đối với dự án vay vốn bằng VND là 3,0%/năm, đối với dự án vay vốn bằng ngoại tệ là 0,75%/năm.
Tìm kiếm thị trường mới
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Michael Michalak cho rằng, hàng xuất khẩu của Việt Nam chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ. Người tiêu dùng Mỹ hiện không mua sắm những loại hàng cao cấp, đắt tiền, mà hướng tới các mặt hàng bình dân hơn. "Đó sẽ là yếu tố giảm thiểu tác động tiêu cực cho hàng xuất khẩu Việt Nam", ông Michael Michalak nói.
Theo ông Lê Quốc Hùng, Tổng lãnh sự Việt Nam tại San Francisco, doanh nghiệp cần lưu ý, hàng bình dân, giá trung bình nhưng chất lượng không được kém, không được có sai sót và đặc biệt là không thể thiếu tính ổn định.
Việc tìm thêm những thị trường ngoài Mỹ, Nhật Bản, châu Âu được các bộ, ngành và DN coi là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Thị trường Trung Đông và châu Phi đang được các DN hướng tới.
Cuối tháng 11/2008 tại TP. HCM, lần đầu tiên trong lịch sử xuất khẩu gạo của Việt Nam, các thành viên Khối cộng đồng Kinh tế và Tiền tệ Trung Phi (CEMAC), Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) đã đến Việt Nam, gặp gỡ trực tiếp với các hiệp hội và DN xuất khẩu gạo của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia tại hội nghị "Gặp gỡ giữa bên mua và bên bán". Đại diện CEMAC cho hay, nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia như Cameroon, Congo, Trung Phi... khoảng trên 500.000 tấn/năm. Nhưng hiện nay, gạo Việt Nam xuất sang châu Phi mới chỉ ở mức khiêm tốn là 12% tổng sản lượng gạo nhập khẩu.
Theo đại diện UEMOA cho biết, tiềm năng xuất khẩu gạo Việt Nam sang các nước Bờ Biển Ngà, Sénégal... là rất lớn, vì sản xuất nội địa chỉ đáp ứng 10 - 50% nhu cầu tiêu thụ.
Với thị trường Trung Đông, theo đại diện Bộ Công thương, thị trường này có nhu cầu hàng hóa đa dạng, sức mua lớn. Các mặt hàng khu vực này nhập khẩu nhiều từ Việt Nam là dệt may, thủy sản, gạo, gỗ, chè, cà phê, mây tre đan…
Những thị trường Trung Đông, châu Phi, trước đây được coi là thứ yếu, nhưng có thể sẽ là cứu cánh cho nhiều DN xuất khẩu năm 2009.