Xác định giá trị mới trong bài toán tăng trưởng cao

Mục tiêu tăng trưởng cao, dài hạn và bền vững của nền kinh tế đang có mặt trong những bài toán chiến lược của doanh nghiệp. Tuy nhiên, lời giải chính dường như dành cho Chính phủ, với sự kỳ vọng lớn vào bước cải cách môi trường kinh doanh thực chất.
Nhiều đề xuất cụ thể, trong đó có giảm giá cước vận tải, đã được doanh nghiệp nêu để thúc đẩy tăng trưởng

Đường nét của những bài toán chiến lược

Hàng loạt đề xuất giải pháp chính sách rất cụ thể, thẳng thắn, có địa chỉ rõ ràng đã được các doanh nghiệp gửi tới Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị “Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng 2 con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp” cuối tuần trước.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chủ động cam kết sẵn sàng hợp tác với các nhà đầu tư để phát triển nguồn điện. “Những khó khăn, vướng mắc nếu có, đối với EVN thì mong các nhà đầu tư liên hệ trực tiếp để chúng tôi xử lý”, ông Đặng Hoàng An, Chủ tịch HĐTV EVN thẳng thắn đặt vấn đề.

Đây là chuyện hệ trọng. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhu cầu điện sẽ tăng rất cao. Theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, nền kinh tế cần có 183.000 MW điện. Với con số hiện có là 87.600 MW, EVN xác định sẽ đầu tư thêm 13.000 MW, số còn lại sẽ do các nhà đầu tư khác.

Nhưng theo Chủ tịch HĐTV EVN, ngay cả với kế hoạch 13.000 MW, cộng với hệ thống lưới điện, thì EVN sẽ phải đầu tư khoảng 5 tỷ USD mỗi năm. Đây là nhiệm vụ rất nặng. “Thủ tướng đã chỉ đạo tháo gỡ rất nhiều cơ chế về đầu tư, cấp phép, nhưng vẫn cần có thêm cơ chế, chính sách”, ông Đặng Hoàng An kiến nghị.

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) đề nghị dành nguồn ngân sách lớn hơn, quan trọng hơn vào việc phát triển các hệ thống đường thủy nội địa, vận tải đường sắt. Kiến nghị với Thủ tướng, ông Lê Anh Sơn, Tổng giám đốc VIMC cho rằng, đối với khu vực phía Nam thì hệ thống kênh rạch rất chằng chịt và được coi là một cái “mỏ vàng” thiên nhiên cho Việt Nam, nhưng chưa được đầu tư tương xứng. Trong khi đó, vận tải đường sắt chủ yếu vào trục Bắc - Nam, thiếu các trục ngang kết nối các khu, cụm công nghiệp ở khu vực Đông Nam Bộ ra cửa biển, khu vực Vũng Tàu...

“VIMC đang phối hợp với một số đối tác nước ngoài xây dựng giải pháp về vận tải trục ngang kết nối các trung tâm công nghiệp với cảng biển, để giảm thiểu chi phí vận tải”, ông Sơn báo cáo.

Cùng với đó, các bài toán đầu tư hạ tầng chiến lược; công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ giá trị cao có khả năng thu hút dòng chi tiêu quốc tế, cũng như chiến lược đầu tư ra nước ngoài cũng được các tập đoàn kinh tế của nhà nước và của khu vực tư nhân đồng thuận gửi tới Chính phủ.

Một điểm chung dễ nhận thấy, trong các bài toán này, những đường nét giải pháp thực thi được phân định khá rõ ràng - một bên là cơ hội đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, một bên là không gian của cơ chế, chính sách.

Đặc biệt, vai trò, vị trí của doanh nghiệp cũng được đề cập rất chi tiết, theo hướng doanh nghiệp lớn sẽ làm gì để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong nước hay ngược lại, sự kết hợp giữa doanh nghiệp lớn trong nước và doanh nghiệp nước ngoài có thu hẹp không gian phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa hay không cũng được các doanh nghiệp tính toán thẳng thắn, thực chất.

Dấu ấn doanh nghiệp trong tăng trưởng

Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo, mọi chính sách, Dự án và nguồn lực đầu tư đều phải hướng tới việc tạo ra giá trị thực chất cho người dân, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân.

Đảm bảo thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững.

Đầu bài đặt hàng doanh nghiệp trong kịch bản tăng trưởng cao và dài hạn của nền kinh tế đang được Bộ Tài chính đề xuất rất lớp lang. Từ việc tham gia cùng Nhà nước đầu tư phát triển một số nền tảng số quốc gia dùng chung, dữ liệu mở có tác động lan tỏa lớn; triển khai các dự án, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia lớn, trọng điểm... đến việc tập trung nguồn lực xây dựng, triển khai các dự án, hoạt động nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển; chủ động nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ và tự cường về khoa học và công nghệ...

Trong đó, phần nhiệm vụ của doanh nghiệp nhà nước tập trung ở các lĩnh vực cốt lõi, chiến lược, hạ tầng thiết yếu, công nghệ nền tảng... Khu vực doanh nghiệp tư nhân sẽ tập trung vào các hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, áp dụng các mô hình kinh doanh bền vững; hình thành chuỗi cung ứng nội địa... Doanh nghiệp FDI sẽ chủ động có chiến lược, kế hoạch hợp tác, cam kết đào tạo nhân lực, chia sẻ, chuyển giao quy trình, công nghệ với doanh nghiệp Việt Nam; đầu tư hình thành các trung tâm nghiên cứu phát triển, trung tâm thiết kế và phát triển sản phẩm tại Việt Nam...

Nghĩa là, trong nền kinh tế tăng trưởng cao, 3 khu vực doanh nghiệp sẽ phải cùng giải bài toán hệ sinh thái doanh nghiệp Việt năng động, hiệu quả, bền vững.

Cần phải nhắc lại, giai đoạn 2021-2025 ghi nhận sự phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp sau những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, bình quân giai đoạn 2021-2025, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp thành lập mới của cả nước đạt 8,8%/năm, tăng 15,8% so với giai đoạn 2016-2020. Tính đến 31/12/2025, cả nước có 1,02 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 25,3% so với năm 2020.

Bóc tách chi tiết, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% thu ngân sách và 82% việc làm. Khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được tái cơ cấu, cổ phần hóa, xử lý dự án yếu kém; hệ thống tổ chức tín dụng được củng cố, nợ xấu từng bước được kiểm soát.

Điểm đáng lưu ý là sự có mặt ấn tượng của cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong các dự án, công trình quy mô lớn, quan trọng. Qua ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, cả nước đã khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án, với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn của tư nhân 3,84 triệu tỷ đồng, chiếm 74,6%.

Tuy nhiên, đánh giá một cách thẳng thắn, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho rằng, khu vực doanh nghiệp vẫn còn những hạn chế nội tại chưa được xử lý. Cụ thể, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu.

Các doanh nghiệp tư nhân hầu hết có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa; tiềm lực tài chính và trình độ quản trị hạn chế; phần lớn có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh chưa cao; tư duy kinh doanh thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kết nối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Các doanh nghiệp FDI, dù đóng góp lớn cho xuất khẩu và tăng trưởng, nhưng hiệu quả tổng thể vẫn thấp; tỷ lệ vốn thực hiện chưa cao; cam kết chuyển giao, chia sẻ công nghệ, đào tạo cho doanh nghiệp trong nước còn thấp, dẫn tới mức độ liên kết với các doanh nghiệp trong nước hạn chế...

Nguyên tắc tăng trưởng vì sự hài lòng của doanh nghiệp và người dân

“Các vấn đề phát triển của doanh nghiệp cũng như những tồn tại, vướng mắc trong môi trường kinh doanh sẽ được giải quyết rất nhanh, với tinh thần rất cải cách. Một nền kinh tế lấy thước đo là sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp thì cơ hội để doanh nghiệp góp nhiều hơn vào tăng trưởng rất lớn”, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương bày tỏ quan điểm khi nhắc tới nguyên tắc tăng trưởng thực chất mà nền kinh tế giai đoạn tới sẽ phải đạt được.

Cần phải nói rõ, chưa đầy 48 giờ đồng hồ trước khi hàng loạt kiến nghị, giải pháp mà các doanh nghiệp, bộ, ngành gửi tới Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong Hội nghị, những nguyên tắc cốt lõi trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số đã được Tổng Bí thư Tô Lâm xác định, nhấn mạnh rất rõ trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Nguyên tắc đầu tiên được nhắc tới là tăng trưởng thực chất, tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Nguyên tắc thứ hai là kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Thứ ba là tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nguyên tắc cuối cùng là tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Có thể hình dung, trong nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bắt buộc phải đi đôi với chất lượng, giá trị gia tăng thực chất mà người dân, doanh nghiệp có thể cảm nhận được, có thể hạch toán, đo đếm được ở cả góc độ kinh tế - xã hội cũng như trong điều hành kinh tế, thì tư duy phát triển, điều hành kinh tế ở các cấp, từ Trung ương tới địa phương sẽ thay đổi theo các giá trị tương ứng.

Áp lực thay đổi đang đặt lên vai cả hệ thống chính trị cũng như cộng đồng kinh doanh, từ ứng xử với các vấn đề trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đến yêu cầu xây dựng, hoàn thiện thể chế trong phân bổ và sử dụng nguồn lực, thu hút đầu tư nước ngoài, lựa chọn các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển...

Khánh An
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục