Photo by Jo Plenio
Cáp điện ngầm dưới biển ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế có sự kết nối. Các tuyến cáp này liên kết hệ thống điện qua biển, cho phép điện năng từ một khu vực được truyền qua lưới điện đến người tiêu dùng và doanh nghiệp tại khu vực khác. Việc tăng cường kết nối cũng có thể giảm phụ thuộc vào bất kỳ nguồn cung đơn lẻ nào -chẳng hạn thủy điện trong thời kỳ hạn hán liên quan đến El Niño.
Đối với Đông Nam Á, các tuyến kết nối ngầm dưới biển là yếu tố then chốt của APG, thể hiện khát vọng của khu vực trong việc kết nối các lưới điện quốc gia của các nước thành viên.
APG có thể tăng cường an ninh năng lượng, thúc đẩy thương mại điện xuyên biên giới, hỗ trợ các quốc gia gia tăng sử dụng năng lượng tái tạo và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
Tuy nhiên, các nhà phát triển có thể phải cam kết nguồn vốn lớn để thực hiện các nghiên cứu kỹ thuật và đặt chỗ năng lực sản xuất cáp từ nhiều năm trước khi dự án có đủ các phê duyệt, thỏa thuận thương mại và nguồn tài chính cần thiết để triển khai. Điều này tạo ra rủi ro ở giai đoạn đầu mà nhiều nhà đầu tư và bên cho vay khó có thể gánh vác. Nếu vấn đề này không được giải quyết, các dự án có tiềm năng khả thi sẽ bị trì hoãn hoặc đình trệ vô thời hạn.
Các tuyến kết nối ngầm dưới biển đường dài đòi hỏi phải có cáp truyền tải điện một chiều cao áp (HVDC), tàu rải cáp chuyên dụng và các trạm chuyển đổi, cùng với công tác khảo sát, xin cấp phép và triển khai kỹ thuật. Nhu cầu về thiết bị và dịch vụ đang ngày càng gia tăng. Các dự án điện gió ngoài khơi và kết nối lưới điện trên toàn thế giới đang gây áp lực lớn lên chuỗi cung ứng thường chỉ tập trung ở một số ít nhà cung cấp. Nhiều nhà cung cấp đã kín lịch thực hiện các dự án trong nhiều năm tới.
![]() |
Ông Eric J. Lam, Chuyên gia Cơ sở hạ tầng, Vụ Đông Nam Á, ADB |
Một dự án có thể nhận được sự ủng hộ về chính sách và thu hút sự quan tâm của các nhà tài trợ nhưng vẫn có thể gặp khó khăn trong việc bảo đảm một suất sản xuất thiết bị. Các nhà cung cấp cần thấy nhu cầu đáng thực tế, lộ trình mua sắm rõ ràng, kế hoạch chắc chắn về mua điện, quy trình phê duyệt pháp lý minh bạch và các nhà tài trợ có khả năng chi trả cho các chi phí ban đầu. Nếu thiếu những yếu tố này, dự án có thể phải chờ đợi nhiều năm hoặc mất cơ hội vào tay các dự án khác đang triển khai thuận lợi hơn tại những khu vực khác.
Nhu cầu năng lượng của Đông Nam Á dự kiến sẽ tăng gần gấp ba lần vào năm 2050, do quá trình công nghiệp hóa, số hóa, điện khí hóa và mức sống được cải thiện. Sáng kiến APG có thể giúp các quốc gia đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng thông qua mua bán điện xuyên biên giới, tăng cường an ninh năng lượng, tích hợp nguồn năng lượng tái tạo và giảm chi phí vận hành hệ thống.
Tầm quan trọng của cáp HVDC
Cáp HVDC ngầm dưới biển sẽ đóng vai trò trung tâm trong tầm nhìn đó. Trong số 18 dự án liên kết lưới điện được xác định theo Nghiên cứu Quy hoạch Tổng thể Kết nối ASEAN III, có năm dự án sử dụng cáp ngầm dưới biển. Các cơ hội khác hiện hữu dọc theo các hành lang kết nối Campuchia, Indonesia, Bán đảo Malaysia và Sarawak, Philippines và Việt Nam. Theo nghiên cứu và phân tích của chúng tôi, đến năm 2040, khu vực có thể cần ít nhất 12 gigawatt công suất kết nối ngầm dưới biển với tổng chiều dài hơn 4.000 km để hiện thực hóa các tham vọng thương mại điện năng.
Mục tiêu nhập khẩu khoảng 6 GW điện carbon thấp vào năm 2035 của Singapore là tín hiệu rõ ràng về nhu cầu thị trường; và mục tiêu vay sẽ đòi hỏi nhiều tuyến kết nối ngầm dưới biển để liên kết các nguồn năng lượng tái tạo với quốc gia này.
Thách thức căn bản là ai sẽ gánh chịu rủi ro ban đầu. Các nhà cung cấp cáp ngầm dưới biển thường yêu cầu phí giữ chỗ hoặc tiền đặt cọc nhiều năm trước khi dự án đi đến quyết định đầu tư cuối cùng; khoảng thời gian từ khi đặt trước năng lực sản xuất đến khi đưa vào vận hành có thể kéo dài khoảng năm năm.
Tiền đặt cọc có thể lên tới 20% giá trị hợp đồng cáp, trong khi các công tác khảo sát biển và thiết kế kỹ thuật cũng đòi hỏi nguồn vốn từ sớm. Những cam kết này có thể phải được thực hiện trước bất kỳ quyết định cuối cùng nào về việc triển khai, khi dự án vẫn có thể bị trì hoãn, điều chỉnh hoặc hủy bỏ. Nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro, các bên chủ trì dự án có thể mất suất sản xuất hoặc đối mặt với tình trạng chậm trễ gây tốn kém.
Các đơn vị chủ trì dự án không thể tự mình gánh vác toàn bộ rủi ro giai đoạn đầu này. Kết nối khu vực có thể mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia. Vì vậy, chính phủ, các tổ chức khu vực và các đối tác phát triển đều có lý do chính đáng để cùng chia sẻ những rủi ro đó.
Ba giải pháp thúc đẩy tiến độ dự án
Hài hòa các quy định và yêu cầu kỹ thuật. Việc áp dụng các phương pháp chung trong công tác lập kế hoạch, chia sẻ dữ liệu, phân tích chi phí - lợi ích, thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật, đánh giá tác động môi trường, đảm bảo an ninh mạng và khảo sát hàng hải có thể giúp giảm thiểu những yếu tố bất định, đồng thời tạo thuận lợi cho quá trình triển khai dự án.
![]() |
Ông Tae Hyun Lee, Chuyên gia Tài chính năng lượng, Ban Năng lượng, ADB |
Một tín hiệu tích cực là những nỗ lực này đang tạo ra động lực mới nhờ vào sự phối hợp của Trung tâm Năng lượng ASEAN (ACE) cùng Ban Thư ký APG, Ủy ban Tư vấn về Lưới điện ASEAN (APGCC), cũng như các nhóm công tác khu vực mới được thành lập để giải quyết các vấn đề về chính sách, quy định và kỹ thuật.
Điều phối nhu cầu về năng lực sản xuất cáp. Các chủ đầu tư dự án hoặc một số quốc gia có thể gộp nhu cầu trong các gói thầu chung hoặc cơ chế mua sắm tập trung, qua đó giúp nhà cung cấp hình dung rõ hơn về khối lượng công việc sắp tới. Thỏa thuận khung và danh sách nhà cung cấp sơ tuyển là những phương án khác. Chẳng hạn, tại châu Âu, TenneT đã ký các thỏa thuận khung bao phủ khoảng 7.000 km cáp HVDC cho chương trình 2 GW của mình.
Hỗ trợ các cam kết ban đầu. Các nhà cung cấp tham gia khảo sát đã đề xuất thành lập một cơ chế nhằm gánh vác các rủi ro tài chính ở giai đoạn đầu của các dự án APG - bao gồm cả các khoản tiền đặt cọc cho nhà cung cấp - qua đó giúp dự án đảm bảo năng lực sản xuất thiết yếu và tiến tới quyết định đầu tư cuối cùng. Giải pháp này có thể được triển khai dựa trên Quỹ Tín thác Kết nối Năng lượng Khu vực Đông Nam Á (Regional Connectivity Fund for Energy in Southeast Asia Trust Fund) - một quỹ được thành lập trong khuôn khổ Quỹ Cơ sở Hạ tầng ASEAN vào tháng 4 năm 2026 - vốn chuyên cung cấp các khoản tài trợ không hoàn lại cho một số công tác chuẩn bị dự án như nghiên cứu khả thi và thiết kế kỹ thuật.
Thành công của APG sẽ phụ thuộc vào việc chia sẻ rủi ro tài chính liên quan đến việc đảm bảo năng lực sản xuất cáp vốn đang khan hiếm, trước khi các dự án đáp ứng các điều kiện tài chính thông thường để có thể huy động vốn. Các chính phủ, các đơn vị bảo trợ dự án, các tổ chức tài chính phát triển và các đối tác tài chính khác cần có những cơ chế hỗ trợ các dự án khả thi quản lý rủi ro giai đoạn đầu này, đồng thời thúc đẩy tiến trình đi tới quyết định đầu tư cuối cùng.

