Hướng đi được nhiều doanh nghiệp lựa chọn
Theo số liệu từ Bộ Tài chính, lũy kế từ đầu năm 2026, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt 327.961 tỷ đồng, trong đó phát hành riêng lẻ chiếm tới 85,6%, tương đương 280.723 tỷ đồng.
Trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán được xem là hai kênh quan trọng nhất. Nhưng khi lãi suất tín dụng có xu hướng tăng, việc tiếp cận hạn mức ngân hàng không dễ dàng, còn thị trường cổ phiếu không thuận lợi để phát hành thêm, phát hành trái phiếu trở thành một lựa chọn được cân nhắc. Trái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động một khoản vốn tương đối lớn trong thời gian ngắn, không làm pha loãng ngay quyền sở hữu như phát hành cổ phiếu. Với các doanh nghiệp có dự án đầu tư dài hạn, nhu cầu vốn lớn hoặc cần cơ cấu lại các khoản vay, đây là công cụ khá phù hợp.
Những thương vụ gần đây cho thấy nhu cầu này đang hiện hữu. Tập đoàn Đầu tư và Phát triển công nghiệp Becamex (mã BCM) dự kiến huy động tối đa 710 tỷ đồng vốn qua hành trái phiếu kỳ hạn 3 năm. Toàn bộ số vốn này sẽ dùng để cơ cấu các khoản vay ngân hàng, gồm 600 tỷ đồng trả dư nợ tại VietinBank và 110 tỷ đồng trả nợ BIDV. Hai kỳ trả lãi đầu tiên ở mức 11%/năm, các kỳ sau bằng lãi suất tham chiếu cộng biên độ 4%, nhưng không thấp hơn 10,5%/năm.
Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) cũng dự kiến phát hành tối đa 700 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm để cơ cấu nợ, với tài sản bảo đảm là tài sản của doanh nghiệp và/hoặc bên thứ ba.
Nhưng không dễ
Doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng, chuyển sang trái phiếu có thực sự thuận lợi? Trước hết, vốn trái phiếu không hề rẻ. Một trong những tổ chức phát hành lớn nhất là Vinhomes đã phát hành các lô trái phiếu riêng lẻ với lãi suất 12,5%/năm. Dữ liệu của VSDC cho thấy một số lô có lãi suất cố định 12,5%/năm trong hai kỳ đầu, sau đó chuyển sang lãi suất tham chiếu cộng 2%/năm nhưng tối thiểu vẫn là 12,5%/năm.
Xây dựng Hạ tầng Crystal, doanh nghiệp mới thành lập năm ngoái để triển khai dự án Sunshine Legend City tại Hưng Yên, cũng vừa huy động 2.000 tỷ đồng kỳ hạn 5 năm, lãi suất 12,5%/năm.
Con số lãi suất 12,5%/năm đã là khá cao đối với một khoản vốn trung và dài hạn. Nhưng đây mới chỉ là lãi suất danh nghĩa, chưa phản ánh đầy đủ tổng chi phí huy động mà doanh nghiệp phải chịu, bao gồm các khoản phí liên quan đến tư vấn, đại lý, đăng ký, lưu ký, tài sản bảo đảm và các chi phí khác (tùy từng phương án phát hành).
Bên cạnh lãi suất, điểm nổi bật của các thương vụ gần đây là yêu cầu về tài sản bảo đảm. Viconship (mã VSC) dự kiến phát hành 500 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 36 tháng và sử dụng toàn bộ phần vốn góp tại công ty con Dịch vụ Cảng Xanh làm tài sản bảo đảm. Giá trị theo mệnh giá của phần vốn góp này là 110 tỷ đồng, đồng thời phương án còn bao gồm những quyền và lợi ích phát sinh liên quan đến phần vốn góp.
Hay lô trái phiếu 710 tỷ đồng Becamex dự kiến phát hành cũng được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất có tổng diện tích gần 8,1 ha, được định giá hơn 1.016 tỷ đồng. Kinh Bắc cũng đưa tài sản của doanh nghiệp hoặc bên thứ ba vào phương án bảo đảm.
Như vậy, doanh nghiệp có tài sản tốt, dòng tiền rõ ràng, dự án khả thi vẫn có cơ hội huy động vốn qua phát hành trái phiếu. Ngược lại, những doanh nghiệp có bảng cân đối yếu, tài sản khó định giá hoặc dòng tiền tương lai phụ thuộc nhiều vào việc bán tài sản, triển khai dự án sẽ khó tiếp cận nguồn vốn.
Đáng chú ý, thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện vẫn phụ thuộc lớn vào ngân hàng - trong vai trò người mua trực tiếp hoặc gián tiếp bơm vốn cho các công ty chứng khoán hoặc các bên liên quan bên mua.
Tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức gần đây, Tổng giám đốc Blue Bridge Investment Partners Nguyễn Thị Triều nhận định, khoảng 80% lượng trái phiếu phát hành hiện nay đến từ ngân hàng và doanh nghiệp bất động sản, trong khi 60 - 70% người mua cũng là các ngân hàng. Khi cả bên phát hành và bên mua đều tập trung vào ngân hàng, trái phiếu chưa thực sự tạo ra một dòng vốn độc lập với tín dụng ngân hàng. Nếu doanh nghiệp chuyển từ vay ngân hàng sang phát hành trái phiếu nhưng người mua trái phiếu chủ yếu vẫn là ngân hàng thì về bản chất, nền kinh tế mới chỉ đang thay đổi hình thức huy động vốn, chứ chưa thực sự đa dạng hóa nguồn vốn.
Vì thế, thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đang khởi sắc trở lại nhưng chưa thể xem là "cứu cánh” cho bài toán huy động vốn của doanh nghiệp. Nó chỉ thực sự trở thành một kênh dẫn vốn hiệu quả khi thị trường có nguồn cầu đa dạng, nhà đầu tư tổ chức đủ mạnh, cơ chế đánh giá rủi ro minh bạch và quan trọng nhất là doanh nghiệp có khả năng tạo ra dòng tiền đủ lớn để trả cho nguồn vốn ngày càng đắt đỏ.
Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC)
Lãi suất trên thị trường quốc tế thấp, cộng thêm các chi phí tư vấn vẫn là mức hấp dẫn, nhưng việc đi vay trực tiếp từ quỹ đầu tư ở nước ngoài hay phát hành trái phiếu quốc tế hiện nay với các doanh nghiệp Việt Nam rất khó. Tất nhiên, một số công ty như Vingroup đã huy động được nguồn vốn quốc tế, nhưng rất nhiều công ty Việt Nam khác chưa phát hành được vì nhiều vấn đề, trong đó có cả vấn đề nội tại của doanh nghiệp chưa đáp ứng được các điều kiện nhà đầu tư nước ngoài đưa ra, cũng như thiếu một số cơ chế, chính sách mang tính khuyến khích, bảo vệ cho các nhà đầu tư.
Trên thế giới, có rất nhiều tổ chức sẵn sàng tài trợ vốn cho các dự án phát triển công nghệ cao, tăng trưởng xanh với lãi suất rất rẻ. Nhưng để dòng vốn đó đi vào doanh nghiệp Việt Nam thì cần rất nhiều cơ chế, chính sách, đặc biệt là cơ chế bảo lãnh.
Vì vậy, tôi kiến nghị Chính phủ mở ra cơ chế hình thành một quỹ bảo lãnh, hay có thể cho vay lãi suất thấp, bù lãi suất đối với những dự án tăng trưởng xanh, dự án công nghệ cao.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số hàng năm trong giai đoạn 2026-2030, có chuyên gia cho rằng, cần nguồn vốn đầu tư cao gấp đôi so với 5 năm trước. Song tôi lại có quan điểm khác.
Để đạt mức tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới, Việt Nam không thể chỉ dựa vào tăng trưởng vốn đầu tư, mà chúng ta cần phải đầu tư bằng trí tuệ, có nghĩa là phải tăng hiệu quả đầu tư lên. Ví dụ, trước kia, đầu tư 1 đồng lời 1 đồng thì bây giờ 1 đồng lời 10 đồng thì không cần nhiều vốn như thế.
Nền kinh tế Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả đầu tư mới là lời giải chính xác nhất cho bài toán đạt được mức tăng trưởng cao nhưng dòng vốn đi vay ít hơn. Tạo được giá trị gia tăng nhiều hơn mới là điều đất nước đang cần.