Tăng tốc chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất mới
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong 4 tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu tăng 28,7%, đạt 175,64 tỷ USD. Cán cân thương mại ghi nhận nhập siêu 7,11 tỷ USD, đảo chiều so với mức xuất siêu 4,3 tỷ USD cùng kỳ năm 2025.
Về cơ cấu nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2%; trong đó, nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 54,8%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 39,4%; trong khi nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng ước đạt 10,27 tỷ USD, chiếm 5,8%.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam phân tích, nhóm hàng tư liệu sản xuất (máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, điện tử) chiếm tới gần 94% tổng kim ngạch nhập khẩu, cho thấy đây là hiện tượng nhập khẩu trước nguyên vật liệu nhằm tạo đà cho xuất khẩu trong các quý tiếp theo.
“Nền kinh tế phục hồi mạnh (GDP quý I/2026 ước tăng tới 7,83%) khiến các doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh mua sắm để chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất mới”, ông Bình nhận định.
Công ty Chứng khoán SSI cũng cho rằng, con số nhập siêu 7,11 tỷ USD không nên được nhìn nhận theo hướng tiêu cực. Gần 94% mức tăng nhập khẩu đến từ hàng hóa tư liệu sản xuất và nguyên vật liệu trung gian, phù hợp với bối cảnh đầu tư mạnh và mở rộng năng lực sản xuất, thay vì phản ánh sự suy yếu về năng lực cạnh tranh.
TS. Nguyễn Đức Tiệp, chuyên gia kinh tế nhận định, hiện nay các doanh nghiệp nước ngoài đang tiếp tục mở rộng năng lực sản xuất trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn và thiết bị công nghệ cao tại Việt Nam. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng thường nhập khẩu đáng kể vào đầu năm để lắp đặt dây chuyền sản xuất và dự trữ linh kiện.
“Điều này có thể làm cán cân thương mại nghiêng về phía nhập khẩu trong ngắn hạn, nhưng đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ hơn trong những giai đoạn tới”, ông Tiệp nói.
Trong 4 tháng đầu năm nay, tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 18,24 tỷ USD, tăng vọt 71,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn thực hiện cũng chạm mức cao nhất so với cùng kỳ trong vòng 5 năm qua, đạt 7,40 tỷ USD, khẳng định niềm tin của nhà đầu tư quốc tế vào triển vọng đầu tư dài hạn tại Việt Nam.
Tính đến cuối tháng 4, Việt Nam có khoảng 46.200 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký gần 545 tỷ USD. Vốn giải ngân lũy kế đã vượt 357 tỷ USD, tương đương 65,6% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Mặt khác, theo các chuyên gia, kết quả tích cực nói trên còn phản ánh hiệu quả thực tiễn từ quá trình cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam thời gian qua, với hàng loạt chính sách pháp luật được thông qua nhằm tháo gỡ các “nút thắt” về cấu trúc và thực thi, đồng thời kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho một chu kỳ phát triển mới.
Công nghiệp hỗ trợ: “điểm nghẽn” của cán cân thương mại
Gần 94% mức tăng nhập khẩu đến từ hàng hóa tư liệu sản xuất và nguyên vật liệu trung gian, phù hợp với bối cảnh đầu tư mạnh và mở rộng năng lực sản xuất.
Bên cạnh những tín hiệu tích cực nói trên, theo TS. Lê Duy Bình, các xung đột địa chính trị trên thế giới thời gian qua liên tục gây rủi ro cho vận tải biển, đẩy chi phí logistics và năng lượng toàn cầu leo thang, khiến chi phí nhập khẩu các mặt hàng năng lượng thiết yếu như xăng dầu, than đá, khí đốt tăng cao. Đồng thời, điều này cũng dẫn đến hiện tượng doanh nghiệp Việt Nam chủ động tăng dự trữ đầu vào nhằm tránh thiếu hụt nguồn cung, qua đó làm gia tăng giá trị nhập khẩu.
Hệ quả tiếp theo là áp lực lạm phát gia tăng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 4 tháng đầu năm tăng 3,99% so với cùng kỳ, nhưng riêng tháng 4 tăng mạnh lên 5,46% so với cùng kỳ năm trước (tăng 0,84% so với tháng 3). Áp lực lạm phát chi phí đẩy gia tăng do giá năng lượng cao, chi phí vật liệu xây dựng tăng và một phần đến từ nhập siêu.
Theo Chứng khoán SSI, dù lạm phát lõi vẫn được kiểm soát (bình quân 3,89%), mức tăng 5,46% trong tháng 4 cho thấy áp lực truyền dẫn giá đang diễn ra dần rõ nét.
Mặt khác, số liệu nhập khẩu cũng cho thấy kinh tế Việt Nam tiếp tục phụ thuộc lớn vào khối FDI. Kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng tới 32,3%, đạt 126,37 tỷ USD, nhanh hơn đáng kể so với tốc độ xuất khẩu của nhóm này. Tuy nhiên, khu vực kinh tế trong nước ghi nhận thâm hụt 15,61 tỷ USD, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài duy trì mức thặng dư 8,5 tỷ USD, cho thấy sự mất cân đối về cơ cấu trong hoạt động thương mại.
“Thêm nữa, ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của quy mô sản xuất lớn, buộc các chuỗi lắp ráp công nghệ cao phải nhập khẩu linh kiện từ Trung Quốc và Hàn Quốc”, ông Bình nhấn mạnh.
Tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều lĩnh vực tại Việt Nam vẫn còn thấp, đặc biệt là điện tử gia dụng (khoảng 30 - 35%), điện tử xe máy (khoảng 40%), các loại xe khác (55% đối với xe tải nhẹ và 10 - 20% đối với ô tô cỡ nhỏ), cùng ngành cơ khí (20 - 30%).
Trong khi đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này vẫn phải nhập khẩu lượng lớn nguyên vật liệu, thiết bị và phụ tùng từ thị trường nước ngoài để phục vụ sản xuất.
Theo số liệu của Cục Hải quan, Bộ Tài chính, năm 2025, Việt Nam nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 149,4 tỷ USD, tăng khoảng 42,3 tỷ USD so với năm 2024. Đây là mức kim ngạch nhập khẩu cao nhất của một nhóm hàng đơn lẻ tại Việt Nam, trong khi kim ngạch xuất khẩu của nhóm này chỉ đạt hơn 106 tỷ USD.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu các sản phẩm điện tử, máy tính xách tay và phụ tùng đạt 65,27 tỷ USD, tăng 52,3% so với cùng kỳ năm ngoái; trong khi nhập khẩu máy móc, thiết bị và phụ tùng khác đạt 21,1 tỷ USD, tăng 20,2%.
Ông Nguyễn Cảnh Cường, giảng viên, chuyên gia tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, sự yếu kém của ngành công nghiệp hỗ trợ là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thâm hụt thương mại lớn.
Để hạn chế thâm hụt thương mại, đồng thời tăng cường thu hút FDI chất lượng cao, ông Cường cho rằng, Việt Nam cần tập trung phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, song song với xây dựng môi trường pháp lý minh bạch và lực lượng lao động có tay nghề cao.
Cụ thể, ông Cường khuyến nghị, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia, gắn với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo đó, cần hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng đồng bộ, hiệu quả; trong đó, trọng tâm là tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 205/2025/NĐ-CP của Chính phủ và triển khai thực chất Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Chương trình cần tập trung kết nối doanh nghiệp trong nước với các chuỗi cung ứng toàn cầu; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất quốc tế; thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu công nghiệp quốc gia phục vụ công tác quản lý và kết nối thị trường.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù như thành lập quỹ phát triển công nghiệp hỗ trợ, triển khai tín dụng ưu đãi dài hạn và cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp.