Thuế quan Mỹ và “bình thường mới” của thương mại toàn cầu

Biến động thuế quan Mỹ buộc cộng đồng doanh nghiệp nhìn sự thay đổi này như một trạng thái “bình thường mới” của thương mại toàn cầu, từ đó chủ động xây dựng mô hình kinh doanh đủ linh hoạt để thích ứng ở mức cao nhất.
Thủy sản là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn sang Mỹ, các doanh nghiệp đã quen với áp lực thuế từ thị trường này

Thuế Mỹ sẽ luôn hiện hữu

Chia sẻ tại hội thảo mới đây với chủ đề “Thuế đối ứng của Mỹ: Kịch bản sau phán quyết của Tối cao Pháp viện và khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt”, các chuyên gia kinh tế và thương mại đều chung nhận định, phán quyết ngày 20/2 của Tối cao Pháp viện Mỹ phản đối việc sử dụng Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế năm 1977 (IEEPA) có tác động đáng kể tới chính sách thuế quan của chính quyền Tổng thống Donald Trump.

PGS. Nguyễn Thu Trang, Đại học Luật Temple & Viện Nghiên cứu luật Hoa Kỳ - Châu Á (Đại học Luật New York) cho rằng, phán quyết này không đồng nghĩa với việc Tổng thống Mỹ mất hoàn toàn công cụ thuế quan, bởi trong “hộp công cụ” thương mại của nhánh hành pháp vẫn còn nhiều cơ chế khác, đáng chú ý là các điều khoản 122, 301 và 232 của Đạo luật Thương mại năm 1974.

Thực tế, ngay sau phán quyết của Tối cao Pháp viện Mỹ, Tổng thống Donald Trump đã lập tức kích hoạt Điều khoản 122, tiến hành áp thuế phụ trội tạm thời tối đa 10%, sau đó lại điều chỉnh lên 15% trong thời hạn 150 ngày.

Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực thương mại, thuế quan, TS. Đinh Trường Hinh, Chủ tịch Công ty EGAT, có trụ sở tại Virginia (Mỹ) khẳng định: “Thuế quan Mỹ sẽ luôn hiện hữu”.

Tư duy nhất quán của ông Donald Trump trong nhiều thập niên là sử dụng thuế như công cụ trung tâm để xử lý thâm hụt thương mại, đây là lập trường xuyên suốt của ông Trump và khó có khả năng thay đổi.

TS. Đinh Trường Hinh, Chủ tịch Công ty EGAT khuyến nghị, về dài hạn, doanh nghiệp phải chủ động giảm chi phí, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chủ động nguyên liệu, minh bạch xuất xứ và chuẩn bị cho một môi trường thương mại biến động, thay vì trông chờ vào sự nới lỏng chính sách từ phía Mỹ.

Mức thuế suất hiệu dụng của Mỹ tính bằng tổng thuế quan trên tổng giá trị nhập khẩu đã tăng mạnh kể từ khi ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng. Đến cuối năm 2025, thuế suất hiệu dụng áp lên hàng hóa Trung Quốc lên tới khoảng 38%, trong khi Việt Nam ở mức 12-13%.

“Điều này cho thấy, dù sử dụng đạo luật nào, chính quyền Tổng thống Donald Trump nhiều khả năng vẫn tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp thuế quan để thu hẹp thâm hụt thương mại, mục tiêu được xem là ưu tiên chiến lược”, ông Hinh dự báo.

Bà Nguyễn Thu Trang phân tích thêm, thời điểm này rất khó khẳng định mức thuế trong thời gian tới sẽ cao hơn hay thấp hơn. Nhưng xét về khía cạnh pháp lý, khả năng cao phía hành pháp Mỹ sẽ kích hoạt các công cụ khác để thay thế áp lực từ gói thuế đối ứng trước đây.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại có mức thặng dư lớn với Mỹ, nên áp lực điều chỉnh là điều khó tránh và giai đoạn 150 ngày chỉ là “khoảng đệm” tạm thời.

Bởi vậy, theo các chuyên gia, sau khi Điều khoản 122 hết hiệu lực vào tháng 7/2026, khả năng cao Mỹ sẽ quay lại khung đàm phán song phương và gia tăng sức ép dựa trên các cam kết trước đó, thay vì áp thuế đại trà.

“Sẽ không còn thời kỳ ổn định dài hạn như trước đây, khi giá cước, thuế suất và điều kiện thương mại có thể dự báo trong nhiều năm. Thay vào đó, doanh nghiệp buộc phải chuẩn bị sẵn các kịch bản thuế quan và các quy định liên quan có thể phát sinh trong thương mại”, ông Trần Chí Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam (VLA) cảnh báo.

Doanh nghiệp không còn bất ngờ

Khi xuất hiện thông tin về khả năng áp mức thuế cao, tâm lý sốc là điều khó tránh khỏi. Song, theo đại diện VLA, cú sốc đó nhanh chóng được thay thế bằng sự bình tĩnh khi doanh nghiệp nhận thấy nỗ lực đàm phán của Chính phủ và các bộ, ngành.

“Thuế chỉ là một công cụ trong hệ thống điều chỉnh thương mại. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp phải chuẩn bị mô hình kinh doanh đủ linh hoạt để thích ứng với mọi biến động của thị trường”, ông Dũng nhấn mạnh.

Với thủy sản - ngành xuất khẩu chục tỷ USD, trong đó Mỹ là thị trường nhập từ Việt Nam khoảng 1,9 tỷ USD (năm 2025), vì thế, mọi thay đổi về chính sách thuế quan đều lập tức có tác động lớn. Nhưng khác với trước, các doanh nghiệp trong ngành không còn cảm thấy bất ngờ. Thay vào đó, cộng đồng doanh nghiệp ngành này đã nhìn sự thay đổi trên như một trạng thái “bình thường mới” của thương mại toàn cầu.

Bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) chia sẻ, thuế đối ứng chỉ là một phần áp lực. Từ nhiều năm nay, doanh nghiệp thủy sản còn phải đối diện cùng lúc thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và nhiều rào cản kỹ thuật khác. Thậm chí, có thời điểm, nếu cộng gộp các sắc thuế, mức chịu thuế của mặt hàng tôm có thể lên tới gần 50% - một con số khiến khả năng cạnh tranh tại thị trường Mỹ gần như bị triệt tiêu.

Vì vậy, khi thuế đối ứng tạm thời giảm về 10% trong khoảng thời gian nhất định, tâm lý doanh nghiệp phần nào cũng “dễ thở” hơn. Song bà Hằng cũng nhìn nhận, đây chỉ là một khoảng lặng mang tính kỹ thuật.

Trên hết, doanh nghiệp thủy sản đều hiểu rằng, thị trường Mỹ vẫn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt khi các công cụ phòng vệ thương mại có thể được kích hoạt bất cứ lúc nào.

Doanh nghiệp thủy sản đã quen với các vụ kiện chống bán phá giá kéo dài nhiều năm, không còn coi đây là cú sốc, mà là một phần của “cuộc chơi” thương mại quốc tế. “Thậm chí, chúng tôi đã và đang chuẩn bị cho kịch bản khi thuế giảm thì nhiều rào cản kỹ thuật khác sẽ tăng lên”, bà Hằng nói thêm.

Hơn nữa, kể từ sau đại dịch Covid-19, cộng đồng doanh nghiệp logistics và xuất nhập khẩu đã liên tục phải đối mặt với các khủng hoảng nối tiếp như: đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị tại châu Âu, căng thẳng ở Trung Đông, biến động giá cước biển và hàng không... Trong bối cảnh đó, việc Mỹ điều chỉnh chính sách thuế chỉ là một “biến số” nữa trong một môi trường vốn đã nhiều bất định.

Là ngành xuất khẩu gần 50 tỷ USD mỗi năm (riêng thị trường Mỹ năm 2025 khoảng 18 tỷ USD), dệt may được dự báo tiếp tục đối mặt nhiều rủi ro về thuế quan, địa chính trị và chi phí logistics trong năm 2026. Vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành đã sớm lường trước để chuẩn bị các đối sách phù hợp. Theo ông Hoàng Mạnh Cầm, Chánh Văn phòng HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), doanh nghiệp ưu tiên “giữ nhịp” sản xuất, xuất khẩu, linh hoạt tài chính, quản trị rủi ro tỷ giá, nguyên liệu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và nâng cấp giá trị gia tăng. Bởi khi thuế quan cao trở thành “bình thường mới”, lợi thế sẽ thuộc về những doanh nghiệp kiểm soát tốt chi phí, đảm bảo tuân thủ xuất xứ và giao hàng nhanh.

Minh bạch chuỗi cung ứng

Ông Hoàng Việt Dũng, chuyên gia tư vấn Thuế và Hải quan tại TLA Consulting lưu ý, thuế quan về mức 10% đồng đều cho mọi quốc gia có thể xem là một “khoảng dừng để thở”. Dẫu vậy, không nên lạc quan quá mức vì nhiều biện pháp thuế quan khác vẫn được duy trì.

Lúc này, củng cố dữ liệu và tính minh bạch của chuỗi cung ứng là điều cần thiết với các doanh nghiệp thuộc mọi ngành hàng. Nhất là trong bối cảnh các cuộc điều tra về xuất xứ, tỷ lệ nội địa hóa hay cáo buộc “trung chuyển” gia tăng, doanh nghiệp không thể tiếp tục vận hành theo cách truyền thống, thiếu chuẩn hóa.

“Việc minh bạch hóa toàn bộ chuỗi xuất khẩu và nhập khẩu, xác định rõ nguồn gốc đầu vào, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và hành trình hàng hóa qua từng cảng biển, cửa khẩu là điều bắt buộc. Khi có dữ liệu đầy đủ, doanh nghiệp mới đủ cơ sở để bảo vệ mình trước các cuộc điều tra và thậm chí tham gia vào quá trình kiến nghị chính sách”, ông Dũng cho hay.

Đồng quan điểm, đại diện VASEP cho biết thêm, kinh nghiệm đối phó với nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại của Mỹ cho thấy, cần sẵn sàng hồ sơ pháp lý minh bạch và chuyên nghiệp ngay từ đầu, bởi chỉ một sai sót nhỏ trong khai báo hay lưu trữ chứng từ cũng có thể dẫn đến mức thuế bất lợi kéo dài nhiều năm.

Dù thương mại toàn cầu đang có nhiều biến động, thuế quan đảo chiều khó đoán định, nhưng Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu quan trọng đối với Việt Nam và quốc gia xuất khẩu nào cũng muốn khai thác được một phần thị trường với nhu cầu nhập khẩu rất lớn này. Năm 2025, Mỹ nhập 4.330 tỷ USD hàng hóa từ nhiều thị trường toàn cầu, tăng 197,8 tỷ USD so với năm 2024.

Nhưng song song với việc duy trì thị trường trụ cột, doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường và tận dụng hiệu quả 17 hiệp định thương mại tự do với gần 70 thị trường mà Việt Nam đã ký kết.

Theo GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), lúc này chính là thời điểm quan trọng để doanh nghiệp đánh giá lại rủi ro trung hạn và tái cấu trúc chuỗi cung ứng, kế hoạch sản xuất, đơn hàng, nhằm chuẩn bị cho những biến động dài hạn của thương mại quốc tế.

Hải Yến
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục