Đào tạo chuyên gia lĩnh vực sức khỏe tâm thần là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay
Theo hồ sơ Việt Nam trong báo cáo Mental Health Atlas 2024 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mật độ bác sĩ tâm thần tại Việt Nam đạt 1,1 người/100.000 dân. Trong khi đó, mật độ nhà tâm lý học và nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần đều ở mức 0,1 người/100.000 dân.
Những con số này cho thấy yêu cầu phát triển nguồn nhân lực đa ngành, đáp ứng nhu cầu chăm sóc không chỉ trong bệnh viện mà cả tại cộng đồng.
Thực tế, chăm sóc sức khỏe tâm thần bao gồm nhiều hoạt động như phát hiện sớm, đánh giá, điều trị, tham vấn tâm lý, phục hồi chức năng và hỗ trợ hòa nhập xã hội. Vì vậy, bên cạnh bác sĩ chuyên khoa tâm thần, hệ thống cần đội ngũ nhà tâm lý lâm sàng, nhân viên công tác xã hội và các vị trí hỗ trợ có năng lực phù hợp.
Quyết định 1929/QĐ-TTg ngày 25/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, trẻ em tự kỷ và người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2021-2030. Chương trình đặt mục tiêu tăng cường chăm sóc, phục hồi chức năng, hỗ trợ hòa nhập cộng đồng, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội.
![]() |
Bên cạnh bác sĩ chuyên khoa tâm thần, hệ thống cần đội ngũ chuyên gia tâm lý lâm sàng để thăm khám, điều trị cho bệnh nhân |
Đáng chú ý, trong giai đoạn 2026-2030, chương trình đặt mục tiêu ít nhất 70% cán bộ, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cơ sở và cộng đồng được nâng cao năng lực thông qua tập huấn, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn. Đây là định hướng quan trọng nhằm tăng khả năng hỗ trợ người cần chăm sóc, nhất là tại cộng đồng.
Để đạt mục tiêu, đào tạo cần đi đôi với chuẩn hóa năng lực và tăng cường thực hành. Chương trình học không chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn mà còn cần chú trọng kỹ năng đánh giá nguy cơ, xây dựng kế hoạch hỗ trợ, phối hợp với gia đình và kết nối dịch vụ phù hợp.
Việc mở rộng thực hành có giám sát tại bệnh viện, cơ sở chuyên khoa và cơ sở trợ giúp xã hội sẽ giúp người học tiếp cận tình huống thực tế, nâng cao khả năng xử lý và phối hợp liên ngành. Cùng với đó, đào tạo liên tục cần được chú trọng để đội ngũ đang làm việc cập nhật phương pháp can thiệp dựa trên bằng chứng, đạo đức nghề nghiệp và yêu cầu bảo mật thông tin.
Một vấn đề khác là phải gắn đào tạo với cơ chế sử dụng nhân lực. Cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và đơn vị tuyển dụng cần phối hợp xác định nhu cầu theo chuyên ngành, địa bàn và vị trí việc làm; đồng thời nghiên cứu chính sách hỗ trợ đào tạo, cải thiện điều kiện làm việc và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp để thu hút, giữ chân người có chuyên môn.
Đối với chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng, cần bồi dưỡng năng lực nhận diện dấu hiệu bất thường, hỗ trợ ban đầu và chuyển gửi đúng tuyến cho đội ngũ liên quan. Tuy nhiên, việc phân định rõ phạm vi chuyên môn vẫn rất cần thiết, bảo đảm các hoạt động chẩn đoán, điều trị và can thiệp chuyên sâu được thực hiện bởi người đủ năng lực.
Về lâu dài, thúc đẩy đào tạo chuyên gia sức khỏe tâm thần cần được triển khai đồng bộ từ chương trình học, thực hành, đào tạo liên tục đến cơ chế sử dụng nhân lực. Đầu tư đúng hướng cho đội ngũ chuyên môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, hỗ trợ người có vấn đề sức khỏe tâm thần hòa nhập cộng đồng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.
