Bối cảnh quốc tế: phân mảnh, bất định và đắt đỏ
Địa chính trị đang trở thành biến số lớn nhất của quyết định đầu tư. 76% cơ quan xúc tiến đầu tư trong khảo sát năm 2026 của UNCTAD coi căng thẳng, xung đột là yếu tố tác động lớn nhất tới FDI, vượt qua yếu tố suy giảm tăng trưởng (58%) và bất định thương mại (54%). Xung đột Trung Đông năm 2026 làm tăng chi phí vận tải, bảo hiểm, đẩy lạm phát trở lại và khiến nhiều dự án bị hoãn, hủy.
Cùng với đó, chính sách thương mại, thuế quan, quy tắc xuất xứ, chống chuyển tải và kiểm soát xuất khẩu công nghệ đang trở thành một phần của chi phí điểm đến.
Lãi suất cao và lợi suất trái phiếu tăng đang thu hẹp nguồn vốn cần thiết cho nhu cầu đầu tư hạ tầng tăng cao.
Một thay đổi khác mang tính cấu trúc là sự trở lại của chính sách công nghiệp, với quy mô chưa từng có, gắn với an ninh kinh tế. Các nền kinh tế lớn dùng trợ cấp, sàng lọc đầu tư và yêu cầu nội địa hóa để kéo vốn về các ngành chiến lược đẩy các nước đang phát triển vào thế yếu trong cạnh tranh.
Với Việt Nam, đây vừa là thách thức vừa là cơ hội, vì những gì nhà đầu tư đang đặt lên hàng đầu - ổn định vĩ mô và chính trị, uy tín tuân thủ, điện sạch, nhân lực kỹ thuật - có thể xây dựng bằng chính sách, không nhất thiết bằng tiền ngân sách.
Bốn xu hướng lớn của đầu tư nước ngoài
Trong môi trường lãi suất cao, vay nợ nước ngoài rất đắt và hệ thống ngân hàng đã chịu tải lớn (tỷ lệ cho vay trên huy động khoảng 115%).
FDI là vốn dài hạn, không tạo nợ, mang lại ngoại tệ ròng. Thu hút FDI chất lượng cao vì vậy còn là một cấu phần của chiến lược tài trợ tăng trưởng và ổn định cán cân thanh toán.
Một là, phục hồi mong manh và tập trung. FDI toàn cầu năm 2025 tăng 6%, đạt 1.600 tỷ USD, nhưng nếu loại dòng vốn trung chuyển, mức tăng chỉ 4%. Vốn vào các nước phát triển tăng 11%, trong khi các nước đang phát triển chỉ tăng 2%. Bắc - Bắc vẫn là hành lang đầu tư chủ đạo chiếm 2/3 tổng vốn và tăng nhanh nhất khi loại trung chuyển: giai đoạn 2018-2024 tăng 32,2%. Các nước đang phát triển tăng mạnh đầu tư ra nước ngoài (115% nếu loại trừ Trung Quốc), nhưng đầu tư Nam - Nam không qua trung chuyển chỉ tăng 19,6%, trong khi đầu tư Nam - Bắc tăng 31%. Vốn Trung Quốc vào các nước phương Nam (không qua trung chuyển) tăng 113%. Vốn G7 tại các nước đang phát triển ngoài Trung Quốc tăng 31,5%, nhanh hơn tại Trung Quốc (9,1%), cho thấy dấu vết của xu hướng “Trung Quốc + 1”. Việt Nam vì vậy cần phải đón dòng vốn dịch chuyển, nhưng cũng cần quản lý tốt vốn phương Nam và vốn qua trung chuyển để không trở thành “điểm chuyển tải”. Đầu tư từ nước đang phát triển sang các nước phát triển để tiếp cận công nghệ đang là xu hướng lớn.
Hai là, vốn dồn vào ngành chiến lược tại các nước phát triển. Đầu tư mới (greenfield) vào hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, bán dẫn, khoáng sản thiết yếu và công nghệ năng lượng sạch tăng từ 109 tỷ USD năm 2020 lên 576 tỷ USD năm 2025, tỷ trọng tăng từ 16% lên 44%; bán dẫn tăng bình quân 54% mỗi năm. Việt Nam đã tìm được “điểm vào” ở các phân đoạn như đóng gói, kiểm thử và thiết kế; dự án 4,5 tỷ USD của Amkor nằm trong nhóm 10 dự án lớn nhất châu Á năm 2025.
Ba là, chế tạo truyền thống co lại. Ở châu Á đang phát triển năm 2025, đầu tư greenfield vào chế tạo giảm 28%, vào các ngành thâm dụng chuỗi giá trị toàn cầu giảm 31%. Riêng tại Đông Nam Á, nhóm ngành này giảm từ 31 xuống 14 tỷ USD. Giả thuyết “khu vực hóa” chưa được dữ liệu ủng hộ: bán dẫn, AI, pin phụ thuộc vào năng lực hơn là khoảng cách địa lý. Lợi thế “Trung Quốc + 1” không tự động thuộc về Việt Nam.
Bốn là, nhà đầu tư đa dạng hơn, đặc biệt là các quỹ tài sản quốc gia (SWF) và các doanh nghiệp nhà nước. Các giao dịch M&A xuyên biên giới đã hoàn tất của các SO-MNE đạt trung bình 85 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025, so với mức 45 tỷ USD của giai đoạn 2015-2019. Các giao dịch đang chờ xử lý được công bố trong năm 2025 có thể đưa tổng hoạt động đầu tư của nhà nước lên khoảng 160 tỷ USD, tương đương khoảng 10% dòng vốn FDI toàn cầu. Sự kết hợp giữa các doanh nghiệp nhà nước truyền thống và các nhà đầu tư cổ phần tư nhân đang làm cho bối cảnh nhà đầu tư toàn cầu trở nên đa dạng hơn, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong dòng vốn FDI.
Các nước đang phản ứng chính sách như thế nào?
Năm 2025, 104 quốc gia ban hành 229 biện pháp chính sách đầu tư, cao nhất từ trước tới nay; 73% có lợi cho nhà đầu tư nhưng tỷ trọng biện pháp hạn chế tăng lên 27%. Có 5 hướng chính.
Thứ nhất, ưu đãi chuyển sang có mục tiêu và dựa trên kết quả. Malaysia chỉ áp dụng thuế suất ưu đãi tại đặc khu Johor - Singapore với một số ngành chiến lược. Việt Nam cũng đi theo hướng này khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 bỏ khu công nghiệp như căn cứ ưu đãi độc lập và Quỹ Hỗ trợ đầu tư tập trung cho R&D, đào tạo.
Thứ hai, sàng lọc an ninh mở rộng. Số nền kinh tế có cơ chế sàng lọc đầu tư tăng mạnh, trong khi Mỹ và EU còn kiểm soát đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, lượng tử.
Thứ ba, nội địa hóa. Khoảng 1/5 biện pháp hạn chế là yêu cầu sử dụng lao động, nhà cung ứng hoặc sở hữu địa phương; Thái Lan yêu cầu dự án trên 100 lao động duy trì ít nhất 70% lao động Thái.
Thứ tư, giữ chân nhà đầu tư và giữ uy tín điểm đến trước xu hướng bảo hộ bằng các gói bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ có thời hạn... và siết chặt kiểm tra xuất xứ, chống chuyển tải.
Thứ năm, ưu tiên có điều kiện và quỹ đồng đầu tư. Thổ Nhĩ Kỳ (chương trình HAMLE) chọn 1.126 sản phẩm ưu tiên bằng phương pháp định lượng công khai; Thái Lan dùng Hành lang kinh tế phía Đông với cơ chế thử nghiệm; Malaysia dành 5,3 tỷ USD đào tạo 60.000 kỹ sư bán dẫn...
Một số kiến nghị
Quy mô FDI vào Việt Nam hiện vẫn đứng thứ ba Đông Nam Á, sau Singapore - một trung tâm tài chính khu vực - và ngang Indonesia. Năm 2026, dòng vốn cải thiện rõ: 8 tháng đầu năm, vốn đăng ký đạt 40,6 tỷ USD (tăng 55,4%), vốn thực hiện 17,25 tỷ USD (tăng 12%, cao nhất 5 năm). Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần tập trung vào các giải pháp dưới đây để đạt mục tiêu chiến lược FDI:
Một, chuyển từ “thu hút nhiều” sang “định vị đúng”. Chiến lược thu hút tập đoàn lớn toàn cầu cần một phương pháp định lượng, công khai như HAMLE để chọn các phân đoạn cụ thể Việt Nam có thể thắng trong 5 năm: với bán dẫn là đóng gói, kiểm thử tiên tiến, thiết kế, vật tư; với AI là trung tâm dữ liệu gắn với điện sạch. Danh mục cập nhật hằng năm, gắn với dự án, nhà đầu tư mục tiêu và người chịu trách nhiệm cụ thể.
Hai, ưu đãi dựa trên kết quả, tương thích thuế tối thiểu toàn cầu. Áp dụng mô hình “cam kết - đo lường - chi trả”: hỗ trợ theo chi phí thực cho R&D, đào tạo, phát triển nhà cung ứng; chi trả khi đạt chỉ tiêu nội địa hóa, số kỹ sư Việt Nam được đào tạo, giá trị mua hàng từ doanh nghiệp nhỏ và vừa; công khai đánh giá hằng năm.
Ba, cạnh tranh bằng năng lực nền thay vì trợ cấp. Dồn ngân sách vào điện sạch ổn định với giá dự báo được (mở rộng mua bán điện trực tiếp), quỹ đất sạch, phòng thí nghiệm dùng chung, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và đặc biệt là đào tạo kỹ sư bán dẫn, AI đồng thiết kế với doanh nghiệp FDI.
Bốn, biến FDI thành động lực cho doanh nghiệp trong nước. Thành lập các trung tâm kết nối FDI - doanh nghiệp nội địa theo mô hình phát triển nhà cung ứng, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi cam kết số nhà cung ứng Việt Nam đạt chuẩn và Nhà nước đồng tài trợ chứng nhận, chuyển đổi số.
Năm, quản trị an ninh đầu tư cân xứng. Tránh cả cấm ngành đại trà lẫn sàng lọc toàn diện vượt năng lực: lập danh sách công khai các thực thể, tài sản trọng yếu, tích hợp “điểm cảnh báo” vào thủ tục đăng ký đầu tư, mua cổ phần, có thời hạn xử lý và chấp thuận có điều kiện; rà soát hiệp định đầu tư thế hệ cũ để giảm rủi ro kiện tụng.
Sáu, bảo vệ uy tín điểm đến. Tiếp tục siết xuất xứ, chống chuyển tải; xây dựng cơ sở dữ liệu chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng của doanh nghiệp FDI, nhất là vốn qua trung chuyển; chứng nhận “nhà sản xuất tuân thủ” để doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc không bị vạ lây.
Bảy, giữ chân nhà đầu tư hiện hữu và huy động vốn đồng đầu tư. Lập cơ chế ứng phó nhanh khi có cú sốc: đối thoại định kỳ với các nhà đầu tư lớn nhất, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, hỗ trợ vốn lưu động có thời hạn, cam kết ổn định chính sách có điều kiện cho dự án đặc biệt lớn. Hình thành nền tảng đầu tư quốc gia gắn với trung tâm tài chính quốc tế để thu hút các quỹ quốc tế vào hạ tầng số, năng lượng, logistics.
Tám, đa dạng hóa đối tác theo bốn hành lang. Xúc tiến riêng với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU để đón vốn G7 đang rời Trung Quốc; phân biệt vốn thực với vốn trung chuyển trong hành lang Nam - Nam; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài để tiếp cận công nghệ và thị trường.
Các kiến nghị chỉ phát huy tác dụng khi có một đầu mối điều phối thống nhất giữa chính sách ngành, đầu tư, thương mại, khoa học công nghệ và năng lượng; một hệ thống chỉ số công khai (tỷ lệ vốn thực hiện/đăng ký, tỷ lệ nội địa hóa, chi phí ngân sách trên mỗi việc làm kỹ thuật); và chính sách ổn định, dự báo được - dạng ưu đãi rẻ nhất mà Việt Nam có thể cung cấp.
Dòng vốn thế giới đang chuyển từ logic chi phí sang logic an ninh và năng lực. Việt Nam cần chọn đúng phân đoạn có lợi thế, đầu tư vào năng lực nền, gắn ưu đãi với hiệu quả lan tỏa và quản trị rủi ro an ninh cân xứng. Khi đó, FDI có thể trở thành một trụ cột của hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và tự chủ theo tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.