Thông tư 08/2026/TT-NHNN (có hiệu lực từ 15/5) cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi. Theo ông, thay đổi này sẽ tác động như thế nào đến thanh khoản hệ thống ngân hàng và dòng tiền trên thị trường chứng khoán trong ngắn hạn?
Trước khi Thông tư 08 được ban hành, một trong những sức ép lớn nhất lên nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (Big 4) là tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) đã liên tục tăng cao. Đến cuối quý I/2026, tỷ lệ này tại các ngân hàng đều đã áp sát ngưỡng quy định tối đa 85% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Cụ thể, Vietcombank (VCB) 84,54%, VietinBank (CTG) 83,48%, BIDV (BID) 82,94%, Agribank 83,28%.
Do đó, Thông tư 08 được xem là động thái hỗ trợ thanh khoản đáng chú ý cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh, khi cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số LDR. Quy định này giúp các ngân hàng có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng mà không cần đẩy mạnh huy động vốn bằng lãi suất cao như trước, qua đó tạo điều kiện để dòng vốn được bơm ra nền kinh tế thuận lợi hơn trong nửa cuối năm. Đồng thời, áp lực cạnh tranh lãi suất huy động cũng giảm bớt, giúp mặt bằng lãi suất duy trì ổn định hoặc có thể giảm nhẹ trong thời gian tới.
Với mức trần LDR 85%, việc bổ sung 20% tiền gửi KBNN có kỳ hạn sẽ tạo thêm dư địa cho vay lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, giúp khơi thông dòng vốn đang bị tắc nghẽn và cải thiện thanh khoản chung của hệ thống.
Đối với thị trường chứng khoán, đây là tín hiệu tích cực vì thanh khoản hệ thống được cải thiện, dòng tiền có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản rủi ro hơn, qua đó hỗ trợ nhóm ngân hàng, chứng khoán và các ngành nhạy với tín dụng như bất động sản, xây dựng và đầu tư công. Tuy vậy, tác động của Thông tư 08 chủ yếu mang tính hỗ trợ kỹ thuật và tâm lý thị trường, còn khả năng tạo ra một “sóng tiền lớn” vẫn sẽ phụ thuộc vào sức hấp thụ vốn của nền kinh tế, tiến độ đầu tư công và chính sách điều hành lãi suất của NHNN trong thời gian tới.
| |
| Ông Lê Quang Hải - Trưởng phòng Tư vấn Đầu tư, Chi nhánh Đà Nẵng - Chứng khoán Yuanta Việt Nam |
Vậy theo ông, nhóm cổ phiếu ngân hàng hưởng lợi hay chịu áp lực gì từ Thông tư mới này?
Cuối quý I/2026, tổng số dư tiền gửi KBNN tại toàn hệ thống đạt khoảng 626.716 tỷ đồng, trong đó 99,59% tập trung tại nhóm Big 4. Riêng ba ngân hàng quốc doanh niêm yết đã chiếm 563.036 tỷ đồng.
Như vậy, rõ ràng nhóm Big4 sẽ là các ngân hàng được hưởng lợi một cách trọn vẹn. Các ngân hàng này được đánh giá là có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng rõ rệt, giúp củng cố vị thế và triển vọng lợi nhuận. Ước tính, chỉ riêng việc điều chỉnh này đã có thể tạo thêm dư địa cho vay lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng cho mỗi ngân hàng.
Trong bối cảnh VN-Index đang phụ thuộc khá lớn vào dòng tiền ở nhóm vốn hóa lớn, liệu thay đổi chính sách điều hành liên quan đến thanh khoản ngân hàng có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa sang các nhóm cổ phiếu midcap và smallcap hay không?
Hiệu ứng tích cực trên thị trường trong ngắn hạn có thể diễn ra. Nhưng đó chỉ là một phản ứng kỹ thuật thường thấy trên thị trường chứng khoán. Bản chất để một xu hướng lan toả lớn hình thành, chất xúc tác phải len lỏi tới được từng ngành, từng doanh nghiệp.
Chất xúc tác chúng tôi muốn đề cập ở đây chính là lãi suất. Nó là cái giá phải trả mà cung cầu thanh khoản đang cố gắng tạo ra. Nếu chính sách này tạo được một lượng cung thanh khoản đủ lớn, lãi suất sẽ giảm. Lúc này hàng loạt doanh nghiệp sẽ hưởng lợi, nhạy cảm nhất là nhóm chứng khoán, bất động sản và sản xuất. Nhưng nếu lượng cung thanh khoản này bị hấp thụ, điển hình giai đoạn này là các dự án đầu tư công, các đại dự án bất động sản…, thì lãi suất vẫn khó lòng điều chỉnh giảm, thậm chí còn căng thẳng hơn. Lúc này NHNN buộc phải điều tiết mạnh tay hơn nữa.
Chúng tôi thiên về quan điểm thứ 2, tức là lãi suất vẫn khó giảm. Bởi vì, trạng thái thiếu thanh khoản đang không chỉ diễn ra ở nhóm Big4, mà hàng loạt ngân hàng đều đang ở trạng thái này. Việc kích chính sách cho một nhóm nhỏ như vậy chủ yếu giúp hệ thống ngân hàng ổn định hơn là điều hướng giảm lãi suất.
Như vậy, để nói liệu midcap hay smallcap có hút được dòng tiền không thì cần phải đánh giá lại một lần nữa bằng con số lãi suất thực tế ở trên thị trường trong giai đoạn tới.
Theo ông, đây có thể xem là tín hiệu cho thấy cơ quan điều hành đang ưu tiên ổn định hệ thống ngân hàng hơn hay đang mở dư địa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế? Nhà đầu tư chứng khoán nên diễn giải động thái này theo hướng tích cực hay thận trọng?
Về lý thuyết, đây là một tín hiệu tốt, chính sách này tạo ra hàng chục nghìn tỷ thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Nhưng đặt trong bối cảnh hiện tại, khi mà hàng loạt dự án lớn đang triển khai, nhu cầu vốn cho đầu tư công lớn hơn bao giờ hết, các ngân hàng đều đang ở tình trạng thiếu vốn, 1 cuộc đua ngầm về lãi suất đang diễn ra.
Chính sách này "mở van" thanh khoản kịp thời, NHNN đã giải tỏa áp lực lớn lên hệ thống, ngăn chặn một cuộc đua lãi suất huy động có thể gây bất ổn.
Nhà đầu tư chúng ta nên thận trọng và cần lưu ý rằng thông tư này chủ yếu mang tính chất kỹ thuật và lợi ích tập trung vào một nhóm nhỏ ngân hàng. Nó không phải là một gói kích thích kinh tế tổng thể. Do đó, nên tránh tâm lý hưng phấn quá mức và thay vào đó, tập trung đánh giá tác động thực tế lên từng doanh nghiệp và nhóm ngành cụ thể trong thời gian tới.