Kết thúc tuần, chỉ số VN-Index đóng cửa tại mức 1.791,65 điểm, giảm gần 50 điểm so với tuần trước và ghi nhận tuần giảm thứ tư liên tiếp. Thanh khoản tiếp tục suy yếu với giá trị giao dịch bình quân trên sàn HOSE đạt khoảng 11.900 tỷ đồng/phiên, phản ánh tâm lý thận trọng và sự thiếu vắng dòng tiền mới.
Dòng tiền phân hóa mạnh giữa các nhóm ngành. Một số cổ phiếu vốn hóa lớn như STB, ACB, VNM và VCI đóng vai trò giữ nhịp thị trường sau nhịp giảm sâu đầu tuần, trong khi nhóm cổ phiếu khu công nghiệp và cao su ghi nhận diễn biến tích cực trong 2 phiên cuối tuần. Tuy nhiên, mức độ lan tỏa vẫn hạn chế khi phần lớn các nhóm ngành còn lại tiếp tục ghi nhận hiệu suất âm, cho thấy dòng tiền vẫn mang tính phòng thủ và lựa chọn cơ hội ngắn hạn thay vì quay trở lại thị trường trên diện rộng.
Khối ngoại duy trì xu hướng bán ròng với giá trị hơn 3.000 tỷ đồng trên HOSE, dù quy mô giao dịch đã thu hẹp đáng kể so với tuần trước. Áp lực bán tập trung chủ yếu ở các cổ phiếu vốn hóa lớn như VPB, VHM, TCB, MSN và MBB. Ở chiều ngược lại, lực mua ròng tại một số mã như ACB và VIC chưa đủ để tạo sự thay đổi đáng kể đối với xu hướng chung của thị trường.
Nhận định thị trường
VN-Index tiếp tục mở rộng nhịp điều chỉnh sau khi đánh mất mốc tâm lý 1.800 điểm và các đường trung bình động ngắn hạn. Điểm tích cực là áp lực bán suy giảm đáng kể về cuối tuần, thể hiện qua biên độ dao động thu hẹp và thanh khoản duy trì ở mức thấp. Điều này cho thấy nguồn cung giá thấp không còn quá lớn khi chỉ số tiến gần vùng hỗ trợ MA200.
Tuy nhiên, lực cầu vẫn duy trì trạng thái thận trọng và thiếu sự đồng thuận ở các nhóm ngành dẫn dắt như ngân hàng, chứng khoán và bất động sản, khiến khả năng hình thành nhịp hồi phục bền vững chưa được xác nhận. Trong ngắn hạn, VN-Index nhiều khả năng tiếp tục dao động trong vùng MA50-MA200 (từ 1.750-1.830 điểm) để kiểm định lại trạng thái cung cầu sau giai đoạn giảm mạnh vừa qua.
Khả năng xuất hiện một nhịp hồi phục đáng tin cậy sẽ phụ thuộc vào sự cải thiện của thanh khoản và mức độ lan tỏa của dòng tiền. Ngược lại, rủi ro kiểm định lại vùng MA200 vẫn hiện hữu nếu lực cầu tiếp tục duy trì ở mức thấp. Nhà đầu tư nên giữ tỷ trọng cổ phiếu ở mức hợp lý, ưu tiên quản trị rủi ro và hạn chế gia tăng vị thế cho đến khi xuất hiện tín hiệu xác nhận rõ ràng hơn từ dòng tiền và xu hướng thị trường.
Ngành điện - Giải quyết bài toán tăng trưởng
Ngành điện Việt Nam đang đứng trước một bài toán hiếm gặp khi xuất hiện cùng lúc 3 vấn đề gồm nhu cầu tăng mạnh, nguồn cung hụt dần và chi phí đầu vào leo thang.
Về phía cầu, sản lượng phụ tải điện quý I/2026 tăng 6,5% so cùng kỳ năm trước và cả năm dự báo vượt 350 tỷ kWh. Đằng sau những con số đó là hàng nghìn nhà máy, khu công nghiệp đang hoạt động ở công suất cao - phản ánh một nền kinh tế đang chạy đua với mục tiêu tăng trưởng.
Vấn đề nằm ở phía cung. Tỷ lệ dự phòng hệ thống đã giảm từ mức đỉnh 28% năm 2023 xuống chỉ còn khoảng 10% trong năm nay. Khi mùa hè đến, hiện tượng El Nino làm các hồ thủy điện cạn nước, nhiệt điện than phải gánh hơn 50% tổng huy động. Tại ngày 26/5, công suất cực đại Pmax đạt kỷ lục 58.226 MW.
Trong khi đó, xung đột tại Trung Đông càng làm mọi thứ phức tạp hơn. Giá LNG khu vực tăng gần 90% từ đầu năm, đội chi phí phát điện lên đáng kể. Tập đoàn Điện lực (EVN) chỉ mới thoát khỏi chuỗi thua lỗ kéo dài nhiều năm, nhưng áp lực chi phí đã quay trở lại ngay trong năm đầu tiên có lãi.
Nhìn về trung hạn, câu chuyện của ngành điện xoay quanh một cuộc đua: Liệu các dự án LNG và năng lượng tái tạo có vào vận hành kịp trước khi nhu cầu vượt quá khả năng đáp ứng hay không. Mục tiêu đến năm 2030 là rất tham vọng: Sản lượng LNG tăng từ 1.600 MW lên 22.500 MW, điện gió tăng hơn 4 lần. Tuy nhiên, phần lớn các dự án LNG vẫn đang mắc kẹt ở khâu đàm phán hợp đồng, khi cả 3 bên gồm nhà đầu tư, EVN và người tiêu dùng cuối chưa tìm được điểm đồng thuận về cách chia sẻ rủi ro. Nếu giải quyết được vấn đề này, các doanh nghiệp đang sở hữu dự án sẽ là người được hưởng lợi từ nhu cầu phụ tải tăng trưởng liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.