Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 30/1-7/2: Vàng, bạc tiếp tục bị bán mạnh, dầu thô ngắt chuỗi tăng 6 tuần liên tục

(ĐTCK)  Kết thúc tuần giao dịch từ 30/1-7/2, thị trường hàng hóa thế giới ghi nhận mặt hàng kim loại quý tiếp tục bị bán mạnh, đặc biệt là bạc, dầu thô cũng giảm trở lại sau 6 tuần tăng liên tục, nhiều mặt hàng khác như lúa mì, đậu tương, cà phê… cũng giảm giá.

Năng lượng: Giá dầu giảm sau chuỗi tăng 6 tuần liên tục, khí LNG nhích tăng

Trên thị trường dầu mỏ, kết thúc phiên thứ Sáu (6/2), giá dầu Brent tăng 0,5 USD (+0,74%) lên 68,05 USD/thùng; dầu thô Mỹ (WTI) tăng 0,26 USD (+0,41%) lên 63,55 USD/thùng. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá dầu Brent giảm khoảng 1,8% và dầu WTI giảm khoảng 2,5% - cũng là tuần giảm đầu tiên sau 6 tuần tăng liên tiếp.

Tâm điểm của thị trường tuần qua xoay quanh mối quan hệ căng thẳng giữa Mỹ và Iran. Trong ngày 6/2, đài truyền hình nhà nước Iran đưa tin các cuộc đàm phán thông qua trung gian Oman đã kết thúc và các nhà ngoại giao sẽ trở về nước để tham vấn.

Trước đó, sự thiếu đồng thuận về chương trình nghị sự, khi Iran muốn tập trung vào vấn đề hạt nhân, còn Mỹ muốn thảo luận về tên lửa đạn đạo và các nhóm vũ trang, đã khiến giới đầu tư “đứng ngồi không yên”.

Ông John Kilduff - đối tác tại Again Capital nhận định, thị trường đang bị cuốn vào trạng thái “con thoi” trước tình hình Iran. Tâm lý lo lắng là yếu tố tác động chính khi tình hình có thể cải thiện trong chốc lát rồi lại xấu đi ngay sau đó.

Bất kỳ sự leo thang nào cũng có thể làm gián đoạn dòng chảy năng lượng, bởi 20% lượng dầu tiêu thụ toàn cầu đi qua eo biển Hormuz, tuyến đường huyết mạch của các nhà xuất khẩu lớn như Ả Rập Xê-út, UAE, Kuwait, Iraq và Iran.

Ả Rập Xê-út hôm 5/2 đã thông báo giảm giá bán chính thức dầu thô Arab Light sang thị trường châu Á cho kỳ hạn tháng 3/2026 xuống mức thấp nhất 5 năm. Đây là tháng thứ tư liên tiếp quốc gia xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới này thực hiện động thái giảm giá.

Trong khi đó, nguồn cung có thể gặp gián đoạn khi các nguồn tin thương mại cho biết xuất khẩu dầu của Kazakhstan qua tuyến đường chính tại Nga có thể giảm tới 35% trong tháng 2 này, do mỏ dầu khổng lồ Tengiz đang phục hồi chậm sau các vụ cháy tại cơ sở điện tháng trước đó.

Trên thị trường khí đốt, giá khí đốt tự nhiên của Mỹ tăng nhẹ do lượng đến các nhà máy xuất khẩu khí đốt hóa lỏng (LNG) tăng và dự báo thời tiết cực lạnh sẽ quay trở lại khu vực Đông Bắc và làm tăng nhu cầu sưởi ấm trong vài ngày tới.

Trước đó, giá khí đốt đã giảm do lượng khí dự trữ được rút ra thấp hơn dự kiến, mặc dù đạt mức cao kỷ lục vào tuần trước khi đợt rét đậm làm tăng nhu cầu sưởi ấm và cắt giảm sản lượng xuống mức thấp nhất 2 năm do các giếng bị đóng băng.

Cơ quan Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA) cho biết, các công ty năng lượng đã rút kỷ lục 360 tỷ feet khối (bcf) khí đốt từ kho dự trữ trong tuần kết thúc ngày 30/1. Giá khí đốt kỳ hạn giao tháng 3 trên Sàn giao dịch hàng hóa New York tăng 4,4 cent (+1,3%) lên 3,509 USD/mmBtu.

Công ty tài chính LSEG cho biết, sản lượng khí đốt trung bình tại 48 tiểu bang của Mỹ đã tăng nhẹ lên 106,6 tỷ feet khối mỗi ngày (bcfd) tính đến thời điểm này trong tháng 2, tăng từ 106,3 bcfd trong tháng 1.

LSEG dự báo, nhu cầu khí đốt trung bình tại 48 tiểu bang của Mỹ, bao gồm cả xuất khẩu, sẽ giảm từ 159,5 bcfd trong tuần này xuống còn 140,7 bcfd vào tuần tới. Lưu lượng khí đốt trung bình đến 8 nhà máy xuất khẩu LNG lớn của Mỹ đã tăng lên 18,4 tỷ feet khối mỗi ngày (bcfd) tính đến thời điểm này trong tháng 2, tăng từ 17,8 bcfd trong tháng 1.

Kim loại: Vàng, bạc tiếp tục bị bán mạnh; đồng, quặng sắt và thép cũng giảm

Ở nhóm kim loại quý, sau cú bán tháo lịch sử tuần đầu tiên của tháng 2, vàng và bạc nỗ lực tìm lại trạng thái ổn định trong tuần qua nhưng biến động vẫn rất lớn và giá cả 2 kim loại tiếp tục nằm dưới các ngưỡng kháng cự quan trọng.

Vàng ghi nhận biên độ dao động theo tuần lớn thứ 2 trong lịch sử, chỉ sau tuần trước. Trong tuần, giá rơi về đáy quanh 4.400 USD/ounce trong phiên thứ Hai (2/2) và có lúc hồi về sát mốc 5.100 USD/ounce. Chốt phiên thứ Sáu (6/2) tại New York, giá vàng giao ngay tăng 183,9 USD (+3,85%) lên 4.964,6 USD/ounce và tăng 1,5% so trong tuần. Giá vàng tương lai giao tháng 4/2026 tăng 90,3 USD (+1,85%) lên 4.979,8 USD/ounce.

Bạc biến động còn mạnh hơn, giá không giữ được vùng 90 USD/ounce và kết phiên 6/2 ở mức 77,69 USD/ounce, giảm gần 14% trong tuần.

Thực tế, vàng và bạc đã trải qua phiên giảm mạnh nhất trong nhiều thập kỷ vào cuối tuần trước nữa (30/1), ngay sau khi lập các đỉnh kỷ lục. Theo Fawad Razaqzada, chuyên gia phân tích tại City Index và FOREX.com, những cú sốc như vậy không thể được hấp thụ chỉ trong một sớm một chiều.

“Biến động vẫn ở mức rất cao và thị trường cần thời gian để cân bằng lại, điều này có thể kéo giá xuống thấp hơn nữa trong ngắn hạn”, chuyên gia này nói.

Theo JP Morgan, vàng và bạc khó có thể tách rời hoàn toàn về xu hướng giá, song bạc hiện đang được định giá tương đối cao, khiến kim loại này dễ chịu áp lực điều chỉnh mạnh trong các giai đoạn thị trường tháo chạy khỏi rủi ro. Dù vậy, ngân hàng này vẫn đánh giá vùng hỗ trợ ngắn hạn của bạc nằm trong khoảng 75-80 USD/ounce và kỳ vọng giá có thể phục hồi về quanh 90 USD/ounce trong năm tới.

Với vàng, triển vọng ngắn hạn đang trở nên kém tích cực hơn khi các động lực hỗ trợ truyền thống tạm thời suy yếu. Giới phân tích cho rằng thị trường vàng hiện vận hành song song trên 2 cơ chế định giá - giao ngay và hợp đồng tương lai. Trong giai đoạn chốt sổ cuối năm, các hợp đồng vàng giao tháng 12 trên sàn CME thu hút thanh khoản lớn, qua đó khuếch đại biến động giá trong ngắn hạn.

Về các kim loại quý khác, giá bạch kim giao ngay giảm mạnh 7,5% xuống 2.057,86 USD/ounce, palladium cũng giảm 5,3% về 1.680 USD/ounce.

Ở nhóm kim loại màu, áp lực tồn kho gia tăng và sức mua yếu từ Trung Quốc tiếp tục kéo giá đồng đi xuống, dù thị trường ghi nhận hoạt động mua vào khi giá điều chỉnh.

Kết thúc phiên 6/2, giá đồng tương lai trên Sàn giao dịch kim loại London (LME) giảm 1,1% về 12.903 USD/tấn, cùng với các kim loại công nghiệp khác giảm mạnh.

Sự sụt giảm này diễn ra sau phiên giảm 3,2% trước đó khi xuất hiện những dấu hiệu mới về sự suy yếu nhu cầu trên thị trường giao ngay Trung Quốc, trong khi lượng tồn kho đồng tại các kho của LME ở châu Á tăng vọt.

Theo Fan Rui - một nhà phân tích của Công ty Guoyuan Futures có trụ sở tại Bắc Kinh, lượng tồn kho tăng cho thấy các nhà giao dịch đã chuyển hướng nguồn cung dành cho Mỹ vào các kho của LME sau khi mức giá chênh lệch giữa đồng và Mỹ biến mất.

Mức chênh lệch giá giữa các hợp đồng Comex và LME đạt đỉnh vào mùa hè năm ngoái và hiện đã giảm, làm suy yếu dòng chảy kim loại sang Mỹ trước nguy cơ áp thuế nhập khẩu.

Theo Công ty Tư vấn Mysteel Global Ltd, tại Trung Quốc, hoạt động mua vào từ các nhà chế tạo và sản xuất đã chậm lại. Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu mạnh mẽ từ lưới điện Trung Quốc. Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Trung Quốc (State Grid Corporation of China), đơn vị mua đồng lớn nhất nước, đã công bố tăng 35% đầu tư tài sản cố định lên 30,8 tỷ CNY (4,4 tỷ USD) trong tháng 1 vào lưới điện siêu cao áp và các nhà máy thủy điện tích năng, khởi đầu mạnh mẽ cho năm mới.

Điều này phù hợp với mức tăng 40% ngân sách chi tiêu trong 5 năm tới, có thể thúc đẩy nhu cầu đồng. Các nhà đầu tư đang chờ đợi báo cáo chi tiết hàng năm về phân bổ đầu tư được công bố sau này để đánh giá mức sử dụng đồng thực tế.

Ở nhóm kim loại đen, giá quặng sắt kỳ hạn giảm nhẹ, chịu áp lực bởi lượng tồn kho cao cho thấy sản lượng lò cao ổn định, khiến giá khó có thể tăng khi nhu cầu giảm.

Cụ thể, hợp đồng quặng sắt tháng 5/2026 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE) của Trung Quốc giảm 1,58% về 767,5 CNY (110,48 USD)/tấn. Giá quặng sắt tháng 3 (SZZFH6) trên sàn giao dịch Singapore giảm 1,85% về 100,6 USD/tấn.

Tại Trung Quốc, tỷ lệ vận hành lò cao tại 242 nhà máy thép được khảo sát duy trì ở mức 86,41%, tăng 1% so với tuần trước, theo dữ liệu từ Thị trường Kim loại Thượng Hải công bố ngày 4/2. Tỷ lệ sử dụng lò cao cũng tăng nhẹ và sản lượng gang nóng hàng ngày tăng 21.000 tấn so với tuần trước.

Mặc dù việc nối lại hoạt động của các lò cao đã hỗ trợ phần nào cho nhu cầu, nhưng lượng tồn kho quặng sắt cao đã hạn chế đà tăng giá, do hầu hết các nhà máy thép đã hoàn tất việc bổ sung hàng tồn kho trước Tết Nguyên đán.

Một số lò cao và lò điện hồ quang cũng đã tạm ngừng sản xuất để bảo trì theo kế hoạch, làm dấy lên lo ngại về nhu cầu nguyên liệu sản xuất thép. Tuy nhiên, áp lực lợi nhuận đã khiến một số nhà máy nối lại sản xuất sớm hơn dự kiến, có khả năng hỗ trợ giá quặng sắt vào cuối tháng 2.

Trong số 9 nhà máy thép quy trình ngắn ở khu vực Vân Nam - Quý Châu, 7 nhà máy sẽ tạm ngừng sản xuất để bảo trì trong dịp Tết Nguyên đán, với thời gian ngừng hoạt động bảo trì trung bình của các nhà máy này năm nay ngắn hơn khoảng 8 ngày so với những năm trước, theo một báo cáo từ Mysteel.

Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên sàn giao dịch DCE giảm điểm, với than cốc và than cốc (DCJcv1) giảm lần lượt 2,09% và 0,86%.

Theo đó, giá thép cây giao tháng 9/2026 trên Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE) giảm 25 CNY xuống 3.106 CNY/tấn. Tương tự, giá thép thanh cốt thép giảm 0,61%; thép cuộn cán nóng giảm 0,43% và thép không gỉ giảm 0,61%. Trong khi đó, thép dây (SWRcv1) tăng 0,44%.

Nông sản: Ngô bật tăng, đi ngược với lúa mì và đậu tương

Thị trường nông sản tuần qua ghi nhận sự biến động với giá lúa mì giảm do hoạt động chốt lời, trong khi ngô tăng nhờ lực mua kỹ thuật và đậu tương diễn biến trái chiều.

Cụ thể, giá lúa mì tương lai trên Sàn giao dịch Chicago (CBOT) đã giảm vào phiên cuối tuần do áp lực bán kỹ thuật và chốt lời sau khi tăng gần 2% trước đó. Hợp đồng lúa mì mùa Đông đỏ mềm tháng 3 (WH25) giảm 1 cent về 5,5725 USD/giạ, trong khi giá lúa mì cứng đỏ mùa Đông KC tháng 3 (KWH25) giảm 0,25 cent xuống 5,5225 USD/giạ. Lúa mì Xuân tháng 3 tại Minneapolis (MWEH25) giảm 2 cent xuống 5,9605 USD/giạ.

Các nhà phân tích cho biết tình trạng mùa vụ không thuận lợi tại Nga - nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới và kế hoạch tăng thuế xuất khẩu lúa mì của nước này đang là tâm điểm chú ý. Tuy nhiên, sản lượng có thể vượt kỳ vọng tại Argentina, trong khi tình hình lúa mì mềm tại Pháp giảm nhẹ.

Giá ngô tháng 3 (CH25) trên CBOT tăng mạnh 5 cent lên 4,4 USD/giạ - mức cao nhất kể từ ngày 28/6/2025. Trong tuần, hợp đồng này tăng 1,6%. Hoạt động mua kỹ thuật cùng với doanh số xuất khẩu cao hơn dự báo đã thúc đẩy giá ngô, bất chấp kỳ vọng về vụ mùa bội thu ở Nam Mỹ.

Giá đậu tương tháng 1 (SF25) trên CBOT giữ nguyên ở mức 9,9375 USD/giạ và giảm 0,4% trong tuần. Giá dầu đậu nành giao tháng 1 (BOF25) tăng 0,66 cent lên 42,97 cent/pound, trong khi giá bột đậu nành (SMF25) giảm 3,7 USD xuống 287,4 USD/tấn ngắn. Thị trường chịu áp lực từ nguồn cung lớn và căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, dù giá dầu thực vật tăng và dự báo vụ mùa cải dầu Canada thấp hơn kỳ vọng đã hỗ trợ giá đậu tương.

Thời tiết thuận lợi ở Nam Mỹ tiếp tục tạo điều kiện cho triển vọng thu hoạch tại Brazil và Argentina, hạn chế đà tăng của ngô và đậu tương.

Nguyên liệu công nghiệp: Ca cao giữ đà tăng, cà phê và đường giảm, cao su biến động trái chiều

Thị trường nguyên liệu công nghiệp tuần qua ghi nhận giá cà phê Arabica giảm mạnh sau dự báo kỷ lục từ Brazil; đường thô phục hồi từ đáy 3 tháng; ca cao tăng vọt 2,35% dù xu hướng năm vẫn giảm sâu.

Cụ thể, tại London, giá ca cao (C1!) kết thúc phiên 6/2 với mức giảm nhẹ 0,5% về 3.050 bảng Anh/tấn, nhưng vẫn tăng 5% cả tuần, phản ánh sự phục hồi từ mức thấp nhất trong 2 năm. Tuy nhiên, khả năng bứt phá của mặt hàng này đang bị chặn lại bởi những lo ngại về nhu cầu tiêu thụ suy yếu và lượng tồn kho lớn tại các quốc gia sản xuất hàng đầu Tây Phi.

Tại New York, giá ca cao (CC1!) cũng giảm nhẹ 0,3% về 4.197 đô la/tấn, cho thấy xu hướng thận trọng của các nhà đầu tư trước tình trạng dư cung cục bộ và bất ổn kinh tế vĩ mô toàn cầu.

Thông tin đáng chú ý từ cơ quan quản lý Ghana (Cocobod) cho thấy, hiện có khoảng 50.000 tấn ca cao chưa bán được đang nằm tại các cảng do nhu cầu mua từ các đối tác quốc tế giảm sút. Các cuộc đàm phán giữa chính phủ và nông dân đang diễn ra nhằm tìm phương án giải quyết lượng tồn kho này mà không gây ra sự sụp đổ về giá nội địa.

Giá cà phê Arabica kỳ hạn trên sàn ICE đã ghi nhận một tuần giao dịch tồi tệ nhất trong thời gian gần đây với mức sụt giảm hàng tuần lên tới 10,7%. Hợp đồng cà phê Arabica kỳ hạn tháng 3 (KC1!) ổn định ở mức 2,9655 USD/pound sau khi chạm mức thấp nhất 6 tháng tại 2,9365 USD/pound vào đầu phiên.

Áp lực giảm giá chủ yếu đến từ thông tin dự báo của công ty thương mại EISA, cho thấy vụ cà phê mới của Brazil có thể đạt sản lượng kỷ lục lên tới 75,8 triệu bao. Con số này cao hơn đáng kể so với mức 66,2 triệu bao mà cơ quan chính phủ Conab dự báo trước đó, khiến tâm lý lo ngại về tình trạng dư thừa nguồn cung bao trùm thị trường.

Tương tự, giá cà phê Robusta (RC1!) cũng giảm 1,8% về 3.755 USD/tấn sau khi chạm mức thấp nhất trong gần nửa năm qua. Với mức giảm 9% trong cả tuần, cà phê Robusta đang chịu tác động kép từ sự suy yếu của Arabica và đà tăng mạnh của đồng USD, khiến nông sản Mỹ trở nên đắt đỏ hơn.

Tại Brazil, các nhà môi giới ghi nhận tình trạng nông dân đang bắt đầu ngừng bán hàng để phản ứng với đà rơi nhanh của giá cả, dẫn đến việc chênh lệch giá nội địa tăng cao. Tại thị trường Việt Nam, giá cà phê nội địa cũng ghi nhận mức giảm sâu, lùi về ngưỡng 93.600-95.000 đồng/kg, đánh dấu việc tuột khỏi mốc 100.000 đồng/kg sau thời gian dài neo giữ.

Giá đường thô kỳ hạn (SB1!) giảm 1,1% về 14,11 cent/pound, sau khi chạm đáy 3 tháng tại mức 14,07 cent/pound. Áp lực dư cung toàn cầu vẫn là yếu tố chính đè nặng lên thị trường, khi sản lượng từ Brazil, Ấn Độ và Thái Lan đồng loạt ghi nhận những tín hiệu tích cực cho niên vụ 2025/26. Các chuyên gia phân tích cho biết, bất kỳ nỗ lực cắt giảm sản lượng nào nhằm phản ứng với mức giá thấp hiện nay cũng cần một khoảng thời gian dài mới có thể tác động thực tế đến cán cân cung - cầu.

Đường trắng (SF1!) cũng giảm 0,9% về 404,40 USD/tấn trong bối cảnh các nhà phân phối đang nắm giữ lượng tồn kho dồi dào. Mặc dù thặng dư toàn cầu được dự báo có thể thu hẹp trong niên vụ 2026-2027 do các thay đổi trong chính sách ethanol của Ấn Độ, nhưng trong ngắn hạn, thị trường vẫn đang dư thừa khoảng 2,9 triệu tấn. Sự dư dả này kết hợp với chi phí vận tải biển ổn định đang khiến người mua không vội vàng nhập hàng, buộc giá đường phải tiếp tục dò đáy để tìm kiếm các mức hỗ trợ kỹ thuật mới.

Giá cao su RSS3 trên Sàn Tocom - Tokyo Nhật Bản diễn biến trái chiều trong phiên cuối tuần qua (6/2). Cụ thể, kỳ hạn tháng 6/2026 ổn định ở mức 336,3 JPY/kg; kỳ hạn tháng 7/2026 giảm nhẹ 0,8 JPY (-0,23%) về 329,2 JPY/kg; kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 3,5 JPY (+1,04%) lên 341,5 JPY/kg...

Tương tự, trên sàn SHFE, giá cao su tự nhiên biến động không đồng nhất tại các kỳ giao hàng. Cụ thể, kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 105 CNY (-0,64%) về 16.140 CNY/tấn; kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 180 CNY (-1,1%) về 16.0060 CNY/tấn; kỳ hạn tháng 7/2026 tăng nhẹ 25 CNY (+0,16%) lên 16.050 CNY/tấn…

Theo Hiệp hội Các quốc gia sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), thị trường cao su tự nhiên toàn cầu năm 2025 được dự báo tiếp tục đối mặt với trạng thái cung tăng nhanh hơn cầu. Cụ thể, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu dự kiến đạt khoảng 14,9 triệu tấn, tăng 1,3% so với năm 2024, trong khi tiêu thụ chỉ tăng 0,8% lên mức 15,6 triệu tấn. Chênh lệch tăng trưởng này cho thấy áp lực dư cung vẫn hiện hữu, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu từ ngành công nghiệp lốp xe phục hồi chậm.

Về phía nguồn cung, ANRPC cho biết, sản lượng tại nhiều quốc gia sản xuất lớn đều tăng, trong đó Indonesia tăng 4,3%, Trung Quốc tăng 6%, Ấn Độ tăng 5,6%, Việt Nam tăng 1,3% và Thái Lan tăng 1,2%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu ước tăng 2%, đạt 13,4 triệu tấn, trong khi tiêu thụ giảm 1,7%, xuống còn 13,9 triệu tấn (ANRPC).

Ở chiều cầu, tiêu thụ cao su tại Trung Quốc - thị trường lớn nhất thế giới - dự kiến tăng 2,5% trong năm 2025, song các nhà sản xuất lốp xe nước này đang giảm công suất do kế hoạch bảo trì trước và sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, theo CNGold. Dù vậy, hoạt động bổ sung tồn kho trước kỳ nghỉ lễ có thể phần nào hỗ trợ giá trong ngắn hạn.

Đáng chú ý, yếu tố thời tiết và địa chính trị đang trở thành biến số lớn đối với nguồn cung. Tại Thái Lan, Bộ Nông nghiệp nước này cho biết lũ lụt kéo dài tại 9 tỉnh miền Nam cùng căng thẳng biên giới Thái Lan - Campuchia đã làm hư hại hơn 1,9 triệu rai cao su, khiến sản lượng giảm trên 44.000 tấn và gây thiệt hại gần 3 tỷ Baht. Những rủi ro này được xem là yếu tố có thể kìm hãm đà giảm của giá cao su trong thời gian tới.

(Nguồn: Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập)

(1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

(USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

1

N.Tùng

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục