Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 26/9-3/10: Vàng giảm tuần thứ 2 liên tiếp, dầu thô giữ trên 100 USD/thùng

(ĐTCK)  Kết thúc tuần giao dịch từ 26/9-3/10, thị trường hàng hóa thế giới ghi nhận giá dầu Brent tiếp tục ở mức cao 102,3 USD/thùng, trong khi vàng giảm hơn 3% về 4.140 USD/ounce. Đồng, ngô, đậu nành, dầu thực vật chịu áp lực, trái lại đường, cà phê, ca cao và cao su bật tăng do lo ngại nguồn cung và thời tiết.
Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 26/9-3/10: Vàng giảm tuần thứ 2 liên tiếp, dầu thô giữ trên 100 USD/thùng

Năng lượng: Dầu thô, sản phẩm tinh chế và than cùng biến động trái chiều

Thị trường dầu thô quốc tế tuần qua tiếp tục biến động với các tăng giảm đan xen. Trong phiên 28/9, giá dầu tăng nhẹ khi lo ngại nguồn cung bị gián đoạn sau các cuộc tấn công làm hư hại đường ống dẫn dầu Đông - Tây, khiến Ả Rập Xê-út phải chuyển hướng xuất khẩu từ cảng Yanbu trên Biển Đỏ sang cảng Ras Tanura ở phía Đông đất nước. Tuy nhiên, kỳ vọng các cuộc trao đổi ngoại giao có thể hỗ trợ khôi phục hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz đã hạn chế đà tăng của giá dầu.

Sang phiên 29/9, giá dầu đảo chiều giảm khi xuất hiện những tín hiệu cho thấy hoạt động xuất khẩu dầu thô từ Trung Đông đang phục hồi. Ả Rập Xê-út nối lại hoạt động bốc xếp tàu chở dầu tại cảng Yanbu sau khi khôi phục vận hành đường ống dẫn dầu Đông - Tây. Giá Brent giảm 2,56% và WTI giảm 3,5%.

Đến ngày 30/9, giá dầu lại tăng khoảng 1% do lo ngại nguồn cung tiếp tục bị hạn chế trong bối cảnh các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran đình trệ, còn tồn kho nhiên liệu tại Mỹ giảm mạnh. Đà tăng tiếp tục được củng cố trong phiên 1/10, khi giá dầu tăng khoảng 4% sau thông tin Mỹ dự kiến điều thêm tàu sân bay và binh sĩ tới Trung Đông, còn Trung Quốc tạm dừng xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ. Những động thái này làm gia tăng lo ngại về khả năng thiếu hụt nguồn cung nhiên liệu trên thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, giá dầu giảm trở lại trong phiên cuối tuần 2/10 sau khi các nhà lãnh đạo châu Âu đồng ý với đề nghị của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc xả kho dự trữ dầu diesel nhằm hạ giá nhiên liệu. Cụ thể, giá dầu Brent giảm 0,06% về 102,25 USD/thùng và dầu WTI giảm 1,9% về 91,11 USD/thùng. Tính cả tuần, dầu Brent tăng 0,11%, trong khi dầu WTI giảm 1,6%.

Đối với sản phẩm tinh chế, giá xăng giảm 0,26% trong ngày xuống 3,1240 USD/gallon, giảm 12,95% so với tuần trước do kết thúc mùa cao điểm di chuyển hè. Mặc dù vậy, tồn kho xăng tại Mỹ hiện vẫn thấp hơn 6% so với mức trung bình 5 năm. So với đầu năm, giá xăng vẫn duy trì mức tăng 82,51%.

Giá dầu đốt tăng 0,99% trong phiên lên 4,5547 USD/gallon, ghi nhận mức tăng 114,72% so với đầu năm. Thị trường nhiên liệu sưởi ấm chịu sức ép lớn khi tồn kho sản phẩm chưng cất của Mỹ thấp hơn khoảng 12% so với trung bình 5 năm trước khi bước vào mùa đông.

Nhằm kiềm chế giá nhiên liệu trước kỳ bầu cử giữa kỳ, chính quyền Mỹ đang cân nhắc phương án cấm xuất khẩu dầu diesel hoặc mở rộng bán dòng diesel nhuộm đỏ miễn thuế. Tuy nhiên, đại diện Bộ Năng lượng Mỹ ưu tiên giải pháp phối hợp với các nhà lọc dầu để tự nguyện hạn chế xuất khẩu.

Theo đó, giá khí đốt giao ngay ở mức 3,0184 USD/MMBtu (tăng 0,25% trong ngày), trong khi giá khí đốt kỳ hạn giảm hơn 1,5% xuống 3,05 USD/MMBtu do dự báo thời tiết ôn hòa làm giảm nhu cầu làm mát và sưởi ấm. Tồn kho khí đốt Mỹ hiện cao hơn 2,4% so với mức trung bình 5 năm. Dù có sự phục hồi nhẹ trong ngắn hạn, giá khí đốt vẫn giảm 18,11% so với đầu năm.

Trên thị trường than, giá “vàng đen” giao dịch quanh mức 145,20 USD/tấn, với hợp đồng than kỳ hạn vượt mốc 145 USD/tấn do nguồn cung toàn cầu bị thắt chặt. Tại Indonesia - quốc gia xuất khẩu than nhiệt lớn nhất thế giới - lượng xuất khẩu tháng 8/2026 giảm 23% so với cùng kỳ năm trước xuống mức thấp nhất 5 năm do hạn ngạch sản xuất và ảnh hưởng của El Nino. Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), tình trạng tắc nghẽn tại eo biển Hormuz đẩy giá khí LNG lên cao đang buộc các thị trường tại châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc) và châu Âu tăng cường huy động nhiệt điện than.

Kim loại: Vàng giảm tuần thứ 2 liên tiếp; đồng, quặng sắt và thép cũng chịu sức ép

Ở nhóm kim loại quý, thị trường vàng kết thúc tuần qua với áp lực bán mạnh. Giá vàng giao ngay chốt phiên cuối tuần 2/10 ở khoảng 4.142,52 USD/ounce, giảm 0,88% trong ngày và giảm 3,37% cả tuần, đánh dấu tuần giảm thứ hai liên tiếp. Tại Mỹ, Reuters ghi nhận giá vàng giao ngay ở mức 4.140,06 USD/ounce vào cuối phiên, trong khi vàng kỳ hạn giảm 1% xuống 4.162,30 USD/ounce.

Báo cáo việc làm tháng 9 của Mỹ cho thấy nền kinh tế chỉ tạo thêm 29.000 việc làm, thấp hơn nhiều so với mức 133.000 việc làm của tháng 8 sau điều chỉnh. Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 4,2%, trong khi tiền lương bình quân theo giờ chỉ tăng 0,1%. Những dữ liệu này làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất trong tháng 10, nhưng chưa đủ tạo động lực phục hồi cho vàng.

Áp lực bán gia tăng sau khi vàng không giữ được mốc 4.200 USD/ounce. Theo Simon-Peter Massabni, Giám đốc phát triển kinh doanh tại XS, thị trường vàng hiện vẫn giằng co giữa 2 nhóm yếu tố: Một bên là những dấu hiệu suy yếu của nền kinh tế, bên còn lại là lợi suất trái phiếu và lạm phát vẫn ở mức cao. Số liệu việc làm yếu tạo cơ sở để thị trường giảm kỳ vọng thắt chặt tiền tệ, nhưng vàng chưa có tín hiệu kỹ thuật đủ mạnh để xác nhận một xu hướng tăng mới.

Trong khi đó, một số dữ liệu tăng trưởng cho thấy kinh tế Mỹ chưa suy yếu rõ rệt. GDP Mỹ tăng 2,2% - cao hơn đáng kể so với dự báo, trong khi tăng trưởng quý I/2026 được điều chỉnh tăng lên 2,5%. Điều này khiến triển vọng chính sách tiền tệ chưa hoàn toàn nghiêng về hướng nới lỏng.

Lợi suất trái phiếu kỳ hạn dài của Mỹ đã lên mức cao nhất kể từ năm 2002, làm giảm sức hấp dẫn của vàng - tài sản không sinh lãi. Dù dữ liệu việc làm yếu ban đầu hỗ trợ giá vàng, tác động này nhanh chóng bị lấn át bởi USD và lợi suất trái phiếu tăng. Từ mức đóng cửa 5.405 USD/ounce ngày 29/1, giá vàng hiện thấp hơn khoảng 23,4%.

Không chỉ vàng, các kim loại quý khác cũng đồng loạt giảm trong tuần. Bạc chốt phiên 2/10 ở 60,37 USD/ounce, giảm 1,02% trong ngày và 6,12% trong tuần. Bạch kim xuống 1.699,70 USD/ounce, giảm 1,26% trong ngày và 4,39% trong tuần. Palladium giảm 1,07% trong ngày xuống 1.167,76 USD/ounce và giảm tới 7,7% trong tuần.

Dữ liệu Kitco ngày 3/10 cho thấy, bạc dao động quanh 60,27-60,52 USD/ounce, bạch kim ở 1.691-1.701 USD/ounce và palladium trong khoảng 1.152-1.192 USD/ounce. Như vậy, tính đến sáng 4/10, bức tranh kim loại quý nghiêng rõ về xu hướng giảm, với vàng quanh mức 4.140 USD/ounce, bạc là 60,4 USD/ounce, bạch kim là 1.700 USD/ounce và palladium là 1.168 USD/ounce.

Ở nhóm kim loại màu, đồng có sự điều chỉnh nhưng rủi ro nguồn cung vẫn nâng đỡ giá. Theo giá chính thức của sàn London (LME), đồng giao ngay chốt phiên 2/10 ở 14.355 USD/tấn, trong khi hợp đồng kỳ hạn 3 tháng ở mức 14.320 USD/tấn, giảm khoảng 2,23% so với cuối tuần trước.

Ở một mốc tham chiếu khác trong phiên, Reuters cho biết, giá đồng kỳ hạn 3 tháng tại Sở Giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE) tăng 0,9% lên 14.374,50 USD/tấn nhờ đồng USD suy yếu sau báo cáo việc làm Mỹ yếu hơn dự kiến và những lo ngại về nguồn cung. Tuy nhiên, tính cả tuần, giá đồng SHFE vẫn giảm khoảng 2%. Lượng tồn kho tại các kho do SHFE theo dõi đã giảm 79% trong 4 tháng qua, xuống còn 38.744 tấn - mức thấp nhất kể từ tháng 1/2024. Sàn này đóng cửa nhân dịp Quốc khánh Trung Quốc và dự kiến mở cửa trở lại ngày 8/10.

Trên bình diện chung, đồng vẫn tăng khoảng 16% trong 6 tháng qua, chủ yếu do lượng hàng tồn kho lớn được chuyển sang Mỹ để đón đầu khả năng áp thuế, qua đó tạo tình trạng thiếu hụt ở những khu vực khác. Về nguồn cung, sản lượng đồng của Chile, nước khai thác đồng lớn nhất thế giới, giảm 12,8% so với cùng kỳ trong tháng 8. Tại mỏ Escondida - mỏ đồng lớn nhất thế giới, các giám sát viên đã từ chối đề xuất hợp đồng tập thể, làm gia tăng nguy cơ đình công và rủi ro nguồn cung.

Ở phía cầu, PMI sản xuất chính thức của Trung Quốc tháng 9 tăng lên 50,1 điểm từ 49,8 điểm trong tháng 8, trở lại vùng mở rộng. Một khảo sát tư nhân thậm chí cho thấy PMI sản xuất tăng lên 52,1 điểm - mức cao nhất 5 tháng. Đây là tín hiệu tích cực đối với đồng và các kim loại công nghiệp, dù hoạt động mua bán vật chất tại Trung Quốc giảm trước kỳ nghỉ Quốc khánh kéo dài.

Các kim loại cơ bản khác cũng chịu sức ép. Trên sàn LME, chốt phiên 2/10, giá nhôm giao ngay đứng ở mức 3.109,5 USD/tấn, giá kỳ hạn 3 tháng ở mức 3.122 USD/tấn; kẽm lần lượt đạt 3.798 USD/tấn và 3.733 USD/tấn; chì đạt 1.827 USD/tấn và 1.865 USD/tấn; niken đạt 15.435 USD/tấn và 15.625 USD/tấn; thiếc đạt 54.355 USD/tấn và 54.400 USD/tấn. Trong đó, thiếc tương đối vững hơn so với nhiều kim loại cơ bản khác.

Niken tiếp tục chịu ảnh hưởng lớn từ nguồn cung Indonesia. Quốc gia Đông Nam Á này chiếm hơn 60% sản lượng niken toàn cầu, nhưng các nỗ lực kiểm soát sản lượng nhằm hỗ trợ giá chưa tạo được cú hích bền vững. Thị trường vì vậy vẫn phải cân bằng giữa nguồn cung dồi dào từ Indonesia với nhu cầu của ngành thép không gỉ và pin xe điện.

Ở nhóm kim loại đen, kết thúc phiên 2/10, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 giảm 1,17 USD (1,26%) xuống mức 91,35 USD/tấn. Thị trường Trung Quốc vẫn trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh từ ngày 1-7/10. Theo Reuters, sàn SHFE đóng cửa trong thời gian này và sẽ giao dịch trở lại vào ngày 8/10.

Ngân hàng Đầu tư UBS đã nâng dự báo giá quặng sắt dài hạn lên 93 USD/tấn, từ mức 85 USD/tấn trước đó, trong một báo cáo nghiên cứu công bố trong tuần, theo Stockhead. Mức dự báo này gần tương đương giá quặng sắt hiện tại.

Dự báo của UBS cao hơn đáng kể so với mức từ 85 USD/tấn trở xuống của các đơn vị dự báo giá hàng hóa khác, vốn lo ngại tác động từ 120 triệu tấn nguồn cung bổ sung mỗi năm của dự án Simandou tại Guinea do Rio Tinto cùng các đối tác Trung Quốc phát triển.

Tại Mỹ, Nucor-Yamato Steel (đơn vị thuộc Nucor Corporation, liên doanh với Yamato Kogyo) và Gerdau Long Steel North America đã nâng giá nhiều loại thép dầm và cọc từ đầu tháng 10, theo Kallanish. Cụ thể, Nucor-Yamato thông báo tăng giá 50 USD/tấn ngắn đối với tất cả các loại thép kết cấu và thép hình, áp dụng cho đơn hàng đặt từ ngày 1/10/2026. Tương tự, Gerdau Long Steel NA cũng nâng giá 50 USD/tấn ngắn đối với nhiều loại thép dầm, thép hình cùng một số loại thép góc và thép chữ U.

Hai nhà sản xuất sẽ giữ nguyên giá cho các đơn hàng đã xác nhận trước khi kết thúc ngày làm việc 30/9, với điều kiện hàng được giao trước ngày 22/10. Trước đó, ngày 28/9, Nucor nâng giá thép cuộn cán nóng lên 1.220 USD/tấn ngắn. Kể từ giữa tháng 9, nhà sản xuất này đã nâng giá chào thêm 10 USD/tấn mỗi tuần.

Theo GMK Center, trong tháng 9, giá thép thanh tại các thị trường lớn trên thế giới đều có xu hướng tăng. Tại Mỹ, đầu tháng 9, nguồn hàng nhập khẩu sẵn có đã hạn chế đà tăng của giá trong nước, khi giá chào hàng nhập khẩu vẫn tương đối sát giá nội địa, kể cả khi đã tính chi phí logistics và thuế.

Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá thép xây dựng. Trong đó, Hòa Phát báo giá mức 14.920 đồng/kg với thép CB240 và 14.210 đồng/kg với D10 CB300; thép Việt Ý Miền Bắc ghi nhận CB240 14.750 đồng/kg và CB300 13.940 đồng/kg. Trong khi đó, thép Pomina và VJS Miền Bắc đều báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg; còn thép Kyoei và VAS Miền Trung chào giá 15.050 đồng/kg.

Nông sản: Giá ngô và đậu nành giảm mạnh, lúa mì ổn định

Giá lúa mì tuần qua giao dịch ổn định quanh mốc 7 USD/bushel (thấp hơn hơn 8% so với đỉnh 3,5 năm lập cuối tháng 8), chịu tác động từ các nỗ lực ngoại giao đa phương nhằm khôi phục hành lang vận chuyển qua Biển Đen. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy cho biết Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và nhiều quốc gia Trung Đông đang tham gia thảo luận mở lại tuyến đường biển, trong khi Thổ Nhĩ Kỳ đã đệ trình các đề xuất an ninh hàng hải tới Moscow.

Nếu đạt được thỏa thuận ngừng bắn, Nga được kỳ vọng sẽ nhanh chóng khôi phục tới 80% công suất kho chứa tại đây. Mặc dù lượng tồn kho ngũ cốc của Ukraine hiện đạt mức cao 24,6 triệu tấn, các cuộc tấn công liên tục vẫn cản trở xuất khẩu trực tiếp, buộc thị trường toàn cầu tìm kiếm nguồn cung thay thế từ Pháp (xuất khẩu 60.000 tấn sang Yemen) hay Argentina (cam kết xuất khẩu đạt đỉnh 5 năm).

Giá ngô ghi nhận nhịp giảm sâu hơn 3%, rơi xuống mức 5 USD/bushel - chạm đáy 5 tuần. Động thái lao dốc này xuất phát từ báo cáo Dự trữ Ngũ cốc (Grain Stocks) của USDA khi cơ quan này công bố lượng tồn kho ngô của Mỹ tính đến ngày 1/9/2026 đạt 2,095 tỷ bushel, vượt xa mức dự báo 1,918 tỷ bushel của giới thương mại, phản ánh nguồn cung trong nước dồi dào hơn thực tế.

Bên cạnh đó, tiến độ thu hoạch tại Mỹ đạt 18% (phù hợp với trung bình 5 năm) nhưng đối mặt với rủi ro từ thời tiết ẩm ướt sắp tới. Ngô cũng chịu áp lực lan tỏa từ tâm lý tiêu cực trên toàn thị trường ngũ cốc sau khi Trung Quốc loại trừ mặt hàng đậu tương khỏi danh sách giảm thuế, đồng thời không đưa ra thêm bất kỳ cam kết thu mua ngô mới nào, dù mặt hàng này có nằm trong đề xuất.

Giá đậu nành tiếp tục duy trì dưới ngưỡng 13 USD/bushel, neo tại vùng thấp nhất 4 tuần dưới sức ép từ sự thất vọng xung quanh thỏa thuận thương mại mới giữa Mỹ và Trung Quốc. Cụ thể, trong khi Bắc Kinh đồng ý giảm thuế cho một số nông sản khác (ngô, lúa mì, dầu và bột đậu nành), đậu nành nguyên hạt của Mỹ lại bị loại trừ và tiếp tục phải chịu mức thuế bổ sung 10%.

Mặc dù các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đã hoàn thành hơn một nửa cam kết thu mua 25 triệu tấn hàng năm kéo dài đến năm 2028, việc thiếu vắng các đơn hàng bổ sung mới cùng thời hạn gia hạn thỏa thuận ngắn hạn (đến 10/1/2027) khiến áp lực thanh lý vị thế duy trì. Về mặt cung cầu, tiến độ thu hoạch đậu nành Mỹ đã hoàn thành 17% (tương đương trung bình 5 năm), lượng hàng kiểm tra xuất khẩu tăng lên 1,15 triệu tấn và chất lượng cây trồng ổn định ở mức 58% đạt chuẩn tốt đến xuất sắc.

Nguyên liệu công nghiệp: Dầu cọ xuống thấp nhất 12 tuần, bông cũng lao dốc, đường lập đỉnh 18 tháng, cà phê và ca cao phục hồi

Giá dầu cọ kỳ hạn Malaysia giảm phiên thứ 6 liên tiếp và kết thúc tuần giảm thứ hai liên tiếp, xuống mức thấp nhất trong 12 tuần. Hợp đồng dầu cọ chuẩn giao tháng 12 trên sàn Bursa Malaysia giảm 21 ringgit (-0,46%) về 4.533 ringgit/tấn - mức thấp nhất kể từ ngày 10/7/2026. Tính cả tuần, hợp đồng này giảm 2,98%.

Áp lực đến từ xuất khẩu yếu, sản lượng cải thiện và kỳ vọng tồn kho cuối kỳ tăng lên trên 3 triệu tấn. Số liệu của Intertek Testing Services và AmSpec Agri Malaysia cho thấy, xuất khẩu các sản phẩm dầu cọ của Malaysia trong tháng 9 giảm từ 17,1-28,8% so với tháng 8. Trong khi đó, dầu đậu nành trên sàn Chicago (CBOT) gần như đi ngang (tăng 0,01%), còn sàn Đại Liên (DCE) đóng cửa nghỉ lễ.

Tuy nhiên, triển vọng dài hơn lại cho thấy khả năng giá dầu thực vật được hỗ trợ bởi nguồn cung thắt chặt. Nhà phân tích Thomas Mielke cho rằng, giá dầu thực vật toàn cầu có thể tăng trong những tháng tới và kéo dài đến năm 2027, trong bối cảnh các chuyến hàng dầu hướng dương từ Biển Đen bị gián đoạn và xuất khẩu dầu đậu nành từ Nam Mỹ giảm. Trong khi đó, Dorab Mistry dự báo dầu cọ Malaysia có thể duy trì trong khoảng 4.500-5.000 ringgit/tấn cho tới tháng 12, dù tồn kho cao vẫn gây sức ép lên giá.

Indonesia đã xuất khẩu 16,13 triệu tấn dầu cọ thô và tinh chế trong 8 tháng đầu năm 2026, giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước. Về kỹ thuật, giá dầu cọ có thể kiểm tra vùng hỗ trợ 4.478 ringgit/tấn và nếu phá vỡ vùng hỗ trợ này có thể giảm về 4.445 ringgit/tấn.

Giá bông kỳ hạn cũng ghi nhận đà giảm mạnh, xuyên thủng mốc 80 cent/pound để tiến sát vùng thấp nhất 3 tháng qua. Động lực đi xuống chủ yếu xuất phát từ áp lực nguồn cung vụ mới dồi dào khi tiến độ thu hoạch bông tại Mỹ đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái và mức trung bình 5 năm (đạt 17% so với mức lịch sử 15%), đặc biệt bứt phá mạnh tại Texas và Arizona theo báo cáo mới nhất từ Cục Thống kê nông nghiệp Mỹ (USDA NASS).

Bên cạnh đó, nguồn cung khổng lồ từ Brazil tiếp tục đè nặng lên thị trường toàn cầu khi nước này ghi nhận sản lượng vượt 4,1 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu niên vụ 2025-2026 lập kỷ lục 3,37 triệu tấn (tăng 19% so với mùa trước), làm gia tăng sức ép cạnh tranh. Trong khi đó, nhu cầu từ các nhà nhập khẩu châu Á vẫn trầm lắng; riêng Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ lớn nhất thế giới chỉ nhập khẩu 80.000 tấn trong tháng 8/2026, giảm 12,1% so với tháng trước đó.

Đường thô là điểm sáng trên thị trường nguyên liệu công nghiệp trong phiên cuối tuần qua. Giá đường thô ICE tăng 2,2% lên 19,36 cent/pound, sau khi có thời điểm đạt 19,37 cent/pound - mức cao nhất 18 tháng. Tính cả tuần, đường thô tăng khoảng 10%. Tương tự, giá đường trắng tăng 2,7% lên 521 USD/tấn.

Thị trường lo ngại sản lượng niên vụ 2026-2027 tại Brazil, Ấn Độ và Thái Lan có thể giảm do thời tiết bất lợi và ảnh hưởng của El Nino. Sản lượng đường Brazil trong nửa đầu tháng 9 giảm tới 41,6%, trong khi mưa tiếp tục gây khó khăn cho hoạt động thu hoạch. Commerzbank nhận định, triển vọng niên vụ 2026-2027 đã xấu đi đáng kể, trong đó El Nino đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy giá đường. Tài liệu cũng ghi nhận một mốc giá tham chiếu khác cho đường ở 19,93 cent/pound, tăng 5,23% trong phiên 2/10.

Cà phê cũng phục hồi trong phiên 2/10. Giá Arabica tăng 2,6% lên 2,9560 USD/pound trong phiên và tăng khoảng 6% trong tuần, trong khi Robusta tăng 2,6% lên 3.357 USD/tấn. Theo Rabobank, giá có thể tiếp tục giảm khi lượng cà phê mới dự kiến được đưa lên các sàn giao dịch trong tháng 11 và 12. Như vậy, thị trường cà phê đang chịu tác động trái chiều giữa lo ngại chất lượng vụ mùa Brazil do mưa liên quan tới El Nino và kỳ vọng nguồn cung mới tăng lên.

Tương tự, giá ca cao New York tăng 2% lên 5.489 USD/tấn trong phiên 2/10, sau khi có thời điểm rơi xuống 5.051 USD/tấn, mức thấp nhất 2 tháng. Giá ca cao vẫn chịu áp lực từ tình trạng dư cung sau khi thị trường toàn cầu ghi nhận thặng dư lớn trong niên vụ 2025-2026. Tuy vậy, triển vọng vụ mùa mới có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết bất lợi liên quan đến El Niño.

Thị trường cao su thế giới tiếp tục ghi nhận sắc xanh, nhưng chưa đồng đều giữa các sàn. SHFE vẫn là điểm sáng với mức tăng gần 4%, trong khi SGX chỉ nhích nhẹ và một kỳ hạn tại TOCOM giảm giá.

Tại sàn SHFE, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 10/2026 tăng 3,8% lên 19.000 CNY/tấn; hợp đồng tháng 11/2026 tăng 3,78% lên 18.955 CNY/tấn. Trên sàn SGX (Singapore), hợp đồng cao su TSR20 tháng 10 và tháng 11/2026 cùng tăng 0,16% lên lần lượt 255,20 cent/kg và 254,80 cent/kg. Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 giữ nguyên ở mức 94,76 Baht/kg.

Diễn biến tại Nhật Bản phân hóa hơn. Hợp đồng cao su RSS3 tháng 10/2026 trên sàn TOCOM giảm 0,20% xuống 444,10 JPY/kg, trong khi kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 2,89% lên 445,60 JPY/kg.

(Nguồn: Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập)

(1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

(USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

N.Tùng

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục