Chiều 9/9/2026, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị tham vấn chính sách dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng.
Thông tin tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh nhấn mạnh, những năm gần đây, ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực, với năng lực sản xuất lớn ở hầu hết các nhóm sản phẩm, có vai trò đáng kể đối trưởng kinh tế, thu ngân sách và tạo việc làm.
Mỗi năm, Việt Nam có thể sản xuất khoảng 125 triệu tấn xi măng, 150 triệu m3 bê tông, 11,7 triệu tấn thép xây dựng, 6,1 triệu tấn tôn mạ, 2,5 triệu tấn ống thép hàn, 840 triệu m2 gạch ốp lát, 350 triệu m2 kính xây dựng, hơn 40 tỷ viên gạch xây quy tiêu chuẩn, 26 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, 26 triệu m2 đá ốp lát và 25 triệu tấn bê tông nhựa asphalt, cùng nhiều loại vật liệu khác.
"Sản lượng xi măng của Việt Nam đứng thứ 3 và gạch gốm ốp lát đứng thứ 5 thế giới", Thứ trưởng Sinh nói.
Công nghệ sản xuất từng bước được đổi mới, tiệm cận trình độ tiên tiến, góp phần giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng và phát thải khí nhà kính, các hệ thống tận dụng nhiệt thừa tại một số nhà máy thép, xi măng và kính tạo ra khoảng 5 tỷ kWh/năm. Khoảng 20 triệu tấn tro, xỉ nhiệt điện và hơn 2 triệu tấn xỉ luyện kim được tái sử dụng mỗi năm; tỷ lệ nhiên liệu thay thế trong sản xuất xi măng đạt khoảng 7-10%.
Chất lượng nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng đã đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, từng bước thay thế hàng nhập khẩu và mở rộng xuất khẩu. Các loại vật liệu xanh, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và thân thiện với môi trường như tre, gỗ rừng trồng, gạch không nung, vật liệu tái chế... cũng ngày càng được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh cho rằng ngành vật liệu xây dựng vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Đầu tư phát triển còn dàn trải, thiếu trọng tâm, dẫn đến mất cân đối cung - cầu và lãng phí nguồn lực; hiệu quả sản xuất, kinh doanh chưa cao; công nghệ và năng lực đổi mới chưa đáp ứng yêu cầu.
Khó khăn còn đến từ thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, trong khi nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chưa được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, ngành chịu sức ép ngày càng lớn về môi trường và giảm phát thải.
Do đó, việc nghiên cứu xây dựng Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng vừa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn mà còn là nhiệm vụ chính trị, lập pháp đã được xác định rõ” tại Chỉ thị số 03-CT/TW của Ban Bí thư, Kết luận số 83-KL/TW, Quyết định số 527/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị...
Bộ Xây dựng định hướng xây dựng Luật theo chuỗi từ nguyên liệu, đầu tư, sản xuất, chất lượng, lưu thông, sử dụng đến thu hồi, tái chế và tái sử dụng.
Dự thảo Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng tập trung vào 6 nhóm chính sách: hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; phát triển vật liệu theo hướng đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, phát triển vật liệu mới và vật liệu xanh; quản lý chế biến, sử dụng nguyên liệu, bảo đảm nguồn cung; hoàn thiện quy định về sử dụng vật liệu trong công trình; thúc đẩy thu hồi, tái chế, kinh tế tuần hoàn; đổi mới quản lý nhà nước, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu về vật liệu xây dựng.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải cho rằng, là ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược phát triển ngành cần tập trung vào sản phẩm vật liệu thế hệ mới, xanh, sạch, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; chuyển từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, từng bước làm chủ công nghệ. Đồng thời, cần đẩy mạnh sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu thay thế để giảm phát thải, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng và bảo đảm nguồn cung cát, đá, xi măng, thép minh bạch, ổn định.
Một nguyên tắc quan trọng được cơ quan soạn thảo nhấn mạnh là Luật không “bao trùm để thay thế” các luật khác. Những nội dung đã được pháp luật chuyên ngành quy định đầy đủ sẽ không quy định lại; các vấn đề về đầu tư, khai thác khoáng sản, đất đai, môi trường, tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng, thuế, tín dụng, giá và các lĩnh vực chuyên ngành tiếp tục thực hiện theo pháp luật tương ứng.
Dự thảo Luật cũng không đặt ra quy hoạch sản phẩm, giấy phép con, xác nhận công suất hay điều kiện đầu tư, kinh doanh mới, không tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp.