Tết đồng bào ở bản...

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Áp Tết, chúng tôi về bản Khoang (Sa Pa), cùng đồng bào Dao đỏ ngả lợn, nấu cỗ, uống rượu bên bếp lửa. Một cái Tết mộc mạc, ấm nồng và rất khác với nhịp sống vội vã nơi phố thị.
Bên nồi lá thuốc. Bên nồi lá thuốc.

Điểm đến quen thuộc của chúng tôi là bản Khoang, từ trung tâm Sa Pa chạy vào chừng hơn 20 km. Nơi đây có vài chục mái nhà của đồng bào Dao đỏ sống quần cư. Nhờ mối quen của một người bạn, năm nào cũng vậy, khi không khí Tết rộn ràng khắp phố phường, khi người qua lại hối hả, khi giây phút chuyển giao còn được tính bằng ngày, chúng tôi lại tìm về đây.

Đến mãi thành quen, trước hôm lên, chúng tôi chỉ cần hiệp đồng với cậu em người Dao về số lượng lợn sẽ bắt, số người tham gia và thời gian có mặt. Thế là mọi chuyện đâu vào đấy.

Một buổi trưa, sau bữa cơm cùng đồng nghiệp, chúng tôi chạy chiếc xe bán tải và có mặt ở bản Khoang khoảng 4 giờ chiều. Khi đến nơi, sương mù bay dào dạt, cái lạnh vùng cao khiến cả đám thoáng gai gai trong người và báo trước một cuộc rượu đúng điệu. Lên tận Sa Pa mà trời nóng thì coi như… bỏ đi - đó là bài học tôi rút ra sau nhiều lần trở lại mảnh đất này.

Chiều hôm đó, quanh nhà San - chủ nhà - chừng chục thanh niên trong bản đã có mặt đầy đủ. Chúng tôi tham gia cùng, nhưng chủ yếu là chạy vặt, động tay động chân cho có không khí, còn các “nhân sự chính” lo liệu tất cả.

Cả đám vật con lợn ra sân, làm tiết, cạo lông, ngả lợn ngay trước hiên nhà. Con lợn bản chừng 15 kg, không quá to, vừa đủ cho vài mâm cỗ. Trai bản ai cũng thạo việc: người pha thịt, người làm lòng, người đánh tiết canh, người ướp thịt nướng, người lên đồi hái lá cây, quả ớt làm gia vị - chỉ một loáng là xong.

Năm nào cũng vậy, khách như chúng tôi được ưu tiên một nồi nước tắm đặc biệt. Cả một chảo nước to tướng, đường kính khoảng 1,5 m, bên trong là mấy chục loại cây cối, thảo dược rừng - chỉ ngồi cạnh thôi đã thấy thơm lừng. So với những lần tắm thuốc dịch vụ ở các bản du lịch, chảo nước này đúng là một trời một vực.

Theo lệ, chúng tôi được tắm thuốc trong lúc mọi người chuẩn bị cỗ. Tắm xong, nhập tiệc ai cũng tỉnh táo, khoẻ khoắn lạ thường. Có lẽ, đó không chỉ là sự chiều khách, mà còn là cách đối đãi của người Dao để mấy ông "gà công nghiệp" dưới xuôi còn đủ sức “nhập khẩu” rượu cho cuộc vui sắp sửa. Ai nấy đều thơm tho, đầu óc sảng khoái, tinh thần phơi phới.

Quay lại chuyện ăn cỗ đồng bào, lý do cho sự đông vui này cũng xuất phát từ yêu cầu của chúng tôi. Năm nào cũng vậy, anh em bắt lợn về ăn Tết và làm quà. Năm nhiều, năm ít, nhưng loanh quanh cỡ chục con.

Một trong những yêu cầu quen thuộc là khi lên, sẽ có một buổi ngả lợn và liên hoan bản đúng điệu. Con lợn được tính vào chi phí chung của nhóm, nhưng bù lại, chúng tôi có một trải nghiệm riêng: sống trọn trong “bữa tiệc” của người Dao đỏ, nghe họ chuyện trò - cái cảm giác gần gũi ấy khó tìm thấy ở nơi khác.

Lợn bản thường được chế biến thành vài món đơn giản: tiết canh, nướng và luộc. Tiết canh thì khỏi phải nói, cách làm vẫn như thường lệ, lợn nuôi dân dã nên không lo liên cầu khuẩn. Món nướng lấy phần sườn, ướp nước mắm, mì chính và ít lá rừng giã nhuyễn, kẹp vào thanh tre tươi, dựng bên bếp củi. Món luộc, thực ra gọi là luộc cũng chưa chuẩn, gọi là canh cũng không đúng - đại khái là thịt lợn cho vào nồi, đun cùng chút gia vị.

Làm cỗ

Làm cỗ

Điểm chung là khi đến bữa, mọi thứ đều nóng hổi. Dao thoăn thoắt, thịt bày ra bát đĩa vẫn còn nghi ngút khói - lúc ấy, bữa rượu tối chính thức bắt đầu.

Nước chấm chủ yếu là mắm pha măng giấm, hay muối hạt giã dối, mắc khén và ớt sừng nướng - thơm, cay, ấm nồng. Rượu được chắt ra bát lớn, mỗi người uống bằng chén to. Bát rượu đặt giữa mâm, hết lại tiếp, uống xong múc thêm. Rượu đồng bào ở đây không quá nặng, chỉ khoảng 30 độ, nhưng trong cái lạnh vùng cao, bên bếp lửa hồng và làn khói quẩn quanh, những món ăn dân dã ấy lại khiến người ta nức nở. Nói thật, từng thử món ở nhà hàng Michelin trên phố Cửa Bắc, tôi thấy cũng khó bì được.

Đêm đó, chúng tôi chén tạc chén thù, ai cũng uống cho thật bụng. Đồng bào kể chuyện làm ăn: trồng trọt, chăn nuôi cá hồi, gà vịt, ngan ngỗng, rồi con nhà ai đi làm xa, đứa nào học đại học. Chúng tôi góp vui bằng vài câu chuyện của mình. Mời chung, mời riêng cứ xoay vòng. Cuộc rượu chỉ khép lại khi nhóm Hà Nội say bổ chửng, lần lượt mò lên giường hoặc leo lên ghế ngủ vội.

Sáng hôm sau, thường dậy khá muộn, anh em rủ nhau ra đường chính “ủ bụng” bát bún hay cháo lòng, kèm vài chén đưa cay. Nói là vài chén, nhưng cả bàn cũng hết một đến hai chai là chuyện thường (riêng bác tài phải giữ mồm giữ miệng để còn chạy xe về phố).

Sau đó, quay lại bản, San - chủ nhà - đã chuẩn bị đủ lợn theo yêu cầu. Con nào con nấy được buộc bốn chân, cho vào rọ tre hoặc bao tải (khoét lỗ để lợn thở), tống lên thùng xe bán tải, háo hức về xuôi.

Trên đường về, anh em thường tạt vào chợ hoa ven đường, chọn vài cành đào ưng ý. Đắt rẻ không quan trọng, nhưng bế được một cành đào từ Sa Pa về cũng là một kỷ niệm Tết. Biết người xuôi thích đào, nhiều năm qua, đồng bào trồng khá nhiều đào quanh vườn, Tết đến hạ xuống bán - còn đào rừng giờ hiếm, người ta cũng ít thích vì cảm giác phá cây.

Riêng tôi, thường chọn thêm một bó hoa chuối rừng. Tôi thích loài hoa này: nụ đỏ tươi như son, quả bao tử vàng nhạt, sần sùi, hoang dại, ám ảnh theo cách không loại hoa nào có được. Cắm vào chum gốm kiểu Phù Lãng, đẹp mê hồn. Bông nào ra bông nấy, nhìn cứ như chống tăng B40 - mạnh mẽ, đầy lực.

Vùng cao vốn mang nhiều mê lực. Nếu có dịp, bạn nên thử một lần vào bản, ngả lợn, uống say, sống cùng những điều mộc mạc nhất - thứ mà cuộc sống vội vàng nơi phố thị ngày càng khó tìm.

Thành Nguyễn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục