Ông Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội
Thưa ông, tại Phiên họp thứ hai (tháng 5/2026) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa XVI (dự kiến khai mạc ngày 20/10) phải sửa toàn diện Luật Đất đai. Trước đó, Luật Đất đai hiện hành được Quốc hội khóa XV dành rất nhiều thời gian để bàn thảo (thông qua theo quy trình 4 kỳ họp). Quốc hội cũng đã có những nghị quyết chuyên biệt để tháo gỡ những vướng mắc về chính sách đất đai. Theo ông, những chính sách lớn nào cần được quan tâm ở lần sửa đổi tiếp theo này?
Việc sửa đổi Luật Đất đai trong năm 2026 là chủ trương đã được đề cập trong Kết luận số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này tập trung vào mục tiêu là khắc phục các điểm nghẽn trong việc tiếp cận đất đai, xem đất đai là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, có một số định hướng lớn đang được nghiên cứu, xem xét đưa vào Luật sửa đổi, bổ sung lần này nhận được sự quan tâm lớn của người dân và doanh nghiệp.
Thứ nhất, sửa đổi các quy định về việc định giá đất và tính nghĩa vụ tài chính để xóa bỏ khoảng xám giao dịch hai giá và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án có sử dụng đất. Chẳng hạn, cần nghiên cứu một số đề xuất về việc áp dụng phương pháp bảng giá đất và hệ số K để có thể sử dụng làm căn cứ mặc định tính giá bồi thường và nghĩa vụ tài chính cho nhiều thửa đất cùng một lúc, góp phần đẩy nhanh việc tiếp cận đất đai của các dự án. Đồng thời, cơ chế này giúp người dân và doanh nghiệp tự tính toán được chi phí sử dụng đất, giảm thiểu rủi ro pháp lý và tranh chấp.
Thứ hai, cần nghiên cứu các chính sách nhằm giải quyết các tồn đọng lịch sử và tháo gỡ các dự án vướng mắc. Có thể nói, quá trình thi hành Luật Đất đai đã tạo ra rất nhiều vấn đề tồn đọng mang tính lịch sử, trong đó có những vấn đề được đưa vào các quy định chuyển tiếp từ Luật Đất đai năm 2013 cho đến Luật Đất đai năm 2024, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Vì vậy, Dự thảo luật sửa đổi lần này cần được nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm khơi thông nguồn lực đất đai đang bị đóng băng, như việc cấp giấy chứng nhận cho các trường hợp chuyển nhượng bằng giấy viết tay trong khoảng thời gian trước đây nếu đất được sử dụng ổn định và không có tranh chấp; giải quyết các dự án có sai phạm lịch sử về mục đích sử dụng đất, nhưng phù hợp với quy hoạch hiện tại thì có thể không bị buộc tháo dỡ công trình, mà được phép tiếp tục triển khai sau khi nộp tiền sử dụng đất bổ sung và tiền phạt…
Thứ ba, nghiên cứu kỹ các trường hợp mở rộng thu hồi đất, theo đó, việc bổ sung các trường hợp thu hồi đất để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội phải được nghiên cứu thấu đáo để vừa bảo đảm quyền lợi của người dân, của doanh nghiệp, cũng như của xã hội.
Cuối cùng, cần nghiên cứu để rút ngắn quy trình, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai.
![]() |
Cần nghiên cứu để rút ngắn quy trình, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Ảnh: Đức Thanh |
Được biết, trong đợt khảo sát thực tế mới đây, ông đã ghi nhận nhiều ý kiến của các địa phương về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai?
Đúng vậy, vừa qua, trong quá trình khảo sát tại các địa phương, một trong những nội dung được nhiều địa phương kiến nghị là cần có những bộ thủ tục hành chính mẫu về đất đai để các tỉnh có thể triển khai tại địa phương mình.
Tuy nhiên, theo tôi, việc cải cách thủ tục hành chính đất đai có 2 vấn đề cần quan tâm. Một là phải nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đất đai để tạo cơ sở kết nối, liên thông dữ liệu, giúp giải quyết thủ tục hành chính được nhanh hơn trên môi trường số, hướng tới giải quyết thủ tục cho người dân, doanh nghiệp theo hình thức phi địa giới hành chính.
Hai là cải cách thủ tục hành chính về đất đai phải phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, giảm trung gian; giảm chi phí tuân thủ, triệt để chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và xóa bỏ tư duy “xin - cho” và đặc biệt là phải tạo ra sự kết nối thuận lợi, đồng bộ giữa các ngành khác nhau trong quản lý đất đai như nông nghiệp và môi trường, xây dựng, tài chính, thuế.
Như đã nói ở trên, Quốc hội đã có những nghị quyết chuyên biệt để tháo gỡ những vướng mắc về chính sách đất đai. Nhưng có thực tế là, việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua còn chậm so với yêu cầu. Với tốc độ ban hành luật, nghị quyết như hiện nay, hạn chế này cần được khắc phục thế nào cho hiệu quả, thưa ông?
Việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết đang là một “điểm nghẽn” rất lớn trong quá trình đưa chính sách vào cuộc sống. Thực tế đi tiếp xúc, làm việc tại địa phương cho thấy, nhiều nơi đang rơi vào tình trạng quy định của Quốc hội đã có, nhưng chưa thể triển khai vì thiếu các quy định chi tiết.
Chẳng hạn, tỉnh Vĩnh Long vừa qua đề xuất triển khai các dự án điện gió, nhưng lại thiếu văn bản hướng dẫn để thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về nội dung này. Hay ở nhiều địa phương, việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia cũng đang bị chậm do thiếu cơ sở pháp lý cụ thể.
Đây là một vấn đề cần được xem như một điểm nghẽn vì trong bối cảnh phát triển hiện nay, chỉ cần một khâu chậm cũng có thể kéo theo đình trệ cả quá trình đầu tư, giải ngân và phát triển kinh tế - xã hội. Áp lực này càng lớn hơn khi tư duy xây dựng pháp luật của chúng ta đang thay đổi theo hướng ban hành luật nhanh hơn và tăng cường phân cấp, giao nhiệm vụ cho Chính phủ, các bộ, ngành hướng dẫn thực hiện. Nếu không cải thiện cách làm, nguy cơ “nợ” văn bản hướng dẫn sẽ tiếp tục tái diễn.
Trong bối cảnh hiện nay, theo tôi, để khắc phục kịp thời và hiệu quả tình trạng này, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, ngay từ khâu xây dựng luật, phải xác định rõ nội dung nào cần quy định ngay trong luật, nội dung nào giao Chính phủ hoặc bộ, ngành hướng dẫn. Những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người dân, điều kiện đầu tư kinh doanh, hay cơ chế vận hành thị trường thì phải được quy định đủ rõ trong luật, tránh tình trạng quy định chung chung, đẩy trách nhiệm xuống văn bản dưới luật. Những nội dung giao quy định chi tiết chỉ nên là các vấn đề mang tính kỹ thuật, cần linh hoạt điều chỉnh theo thực tiễn.
Đây cũng là tinh thần mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Đó là phải kiên quyết khắc phục tình trạng văn bản luật chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Tham khảo kinh nghiệm của các nước cũng cho thấy, những đạo luật quy định về hoạt động sản xuất - kinh doanh thường rất chi tiết. Ví dụ, Luật doanh nghiệp của Nhật Bản có hơn 700 điều, trong khi Luật Doanh nghiệp của chúng ta hiện nay là khoảng 200 điều.
Thứ hai, cần gắn chặt quy trình xây dựng luật với quy trình chuẩn bị văn bản hướng dẫn thi hành. Khi trình dự án luật, cơ quan soạn thảo đồng thời phải chuẩn bị dự thảo nghị định, thông tư liên quan để các cơ quan thẩm tra và Quốc hội có thể đánh giá ngay tính khả thi, tính đồng bộ của chính sách. Nhiều quốc gia đã áp dụng cách làm này để hạn chế tối đa độ trễ chính sách sau khi luật được thông qua.
Thứ ba, về mặt kỹ thuật lập pháp, cần có khoảng thời gian hợp lý giữa thời điểm thông qua luật và thời điểm luật có hiệu lực. Khoảng thời gian này không chỉ giúp cơ quan quản lý hoàn thiện văn bản hướng dẫn, mà còn giúp người dân, doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị thích ứng với quy định mới.
Cuối cùng, cần tăng cường cơ chế giám sát và siết chặt trách nhiệm đối với việc ban hành văn bản quy định chi tiết. Cơ quan nào chậm ban hành, để xảy ra tình trạng văn bản kém chất lượng hoặc gây ách tắc thực thi thì phải có cơ chế giải trình rõ ràng, thậm chí xem xét trách nhiệm cụ thể. Chỉ khi gắn tiến độ và chất lượng văn bản với trách nhiệm của từng cơ quan, thì mới có thể khắc phục căn cơ tình trạng “luật chờ nghị định” kéo dài nhiều năm qua.
