Bình luận về con số trên 50 tỷ USD Việt Nam có thể đạt được trong thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm nay, ông Supachai Panitchpakdi, Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) thẳng thắn cho rằng, số lượng các dự án hay tổng số vốn đăng ký không nên là vấn đề quá coi trọng. Hơn thế, theo ông Supachai, khi con số này có được phần lớn từ các dự án khai khoáng có quy mô lớn, vấn đề đặt nặng phải là chất lượng các dự án cũng như hiệu quả tác động thực tiễn của chúng khi các dự án được thực hiện. "Khuyến nghị của UNCTAD về chính sách đầu tư Việt Nam trong năm 2008 cũng đã đưa ra là cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương trong nỗ lực thực hiện xúc tiến đầu tư. Vai trò của chính quyền trung ương phải được đặt ở vị trí quan trọng hơn, khi trên thực tiễn nhiều địa phương đã cấp chứng nhận đầu tư cho tất cả các dự án mà nhà đầu tư đề xuất, trong khi thiếu cân nhắc tới hiệu quả một cách tổng thể", ông Supachai nói.
Phải nói là với cách tiếp cận dự án theo hướng trên của không ít địa phương, sự hấp dẫn của môi trường đầu tư có lẽ sẽ được đánh giá cao ở yếu tố không có rào cản. Song, cũng khó có thể cho rằng, đó là một sự hấp dẫn thực chất với các nhà đầu tư có kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam. Khi một địa phương mà chất lượng các dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư không cao, quá dàn trải, thậm chí nhiều dự án mãi vẫn nằm trên giấy và trong các tài liệu thống kê, tính thuyết phục về hiệu quả trong kinh doanh sẽ không đạt được. Thậm chí, các dự án treo không được giải quyết triệt để sẽ đem lại dấu ấn không mấy tốt đẹp về năng lực điều hành của bộ máy chính quyền của địa phương. Rất có thể sau sự hồ hởi ban đầu đối với những nơi "dễ dãi", các nhà đầu tư sẽ tới những địa chỉ có tỷ lệ các dự án đang hoạt động đạt hiệu quả cao để tìm kiếm các cơ hội làm ăn.
Rõ ràng, cơ chế phân cấp quản lý các dự án FDI bên cạnh lợi ích rõ ràng là tạo dư địa lớn cho các địa phương phát huy nội lực đang bộc lộ những điểm cần phải cân nhắc cẩn trọng. Những đánh giá mới đây về hoạt động FDI đang cho thấy, các lĩnh vực mục tiêu thu hút FDI không đạt được nhiều kết quả như mong muốn. Lượng vốn FDI vào nông nghiệp vẫn đang ở mức rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,5% tổng nguồn vốn FDI trong các tháng đầu năm 2008, nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng chậm, hiệu quả sử dụng đất trong các dự án hiện không cao... Thậm chí, những tranh luận về việc có nên tiếp tục cấp phép cho các dự án thép, các dự án giấy hay không... cũng được coi là xuất phát từ việc thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong xác định mục tiêu thu hút FDI.
Hơn thế, trong nghiên cứu của UNCTAD cũng có nhắc tới khuyến nghị Việt Nam nên thu hút FDI một cách đa dạng, thay vì tập trung vào các lĩnh vực truyền thống như hiện nay. Các ngành nghề được UNCTAD cho là Việt Nam cần mở rộng trong thu hút đầu tư là viễn thông, điện, vận tải, giáo dục và dạy nghề trình độ cao. Đây là các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, cần có sự cải thiện nhanh về chất. Cho dù không thể quá trông chờ vào đầu tư tư nhân, kể cả trong nước và nước ngoài, trong đầu tư cơ sở hạ tầng, lĩnh vực đòi hỏi rất nhiều vốn để thực hiện, song ông Supachai cho rằng, xây dựng chính sách đối tác giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân để kết hợp nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cùng với môi trường kinh doanh thuận lợi để hấp dẫn các nguồn vốn là điều Chính phủ Việt Nam cần phải quan tâm hơn.
Sự rộng mở của thị trường nội địa sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã thay đổi rất lớn vị trí cũng như cách nhìn nhận của các ngành, lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ. Nếu như trong các tiêu chí về thu hút đầu tư, cơ sở tổng công suất của ngành tiếp tục được coi là một trong những tiêu chí để quyết định có hay không chấp nhận dự án của ngành đó, tính thuyết phục đối với nhà đầu tư sẽ không cao. Hơn thế, các chuyên gia Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho rằng, sẽ không thể áp dụng cách tính nội địa mãi, khi mà các doanh nghiệp sản xuất không chỉ để phục vụ trong nước. Sự giới hạn theo cách này thậm chí được cho là sẽ ảnh hưởng không tốt tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của chính các doanh nghiệp đang hoạt động. Hơn thế, phải thừa nhận rằng, đó là một rào cản không đáng có với một nền kinh tế đang hội nhập sâu và định hướng xuất khẩu.