Sàng lọc cổ phiếu chờ tín hiệu thị trường

(ĐTCK) Nhịp điều chỉnh trong tháng 7 cho thấy thị trường đang chuyển từ kỳ vọng sang kiểm chứng lợi nhuận. Cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp biến động lực vĩ mô thành doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền.

Tháng 7: định giá trở về gần hơn với nền tảng lợi nhuận

Điều đáng chú ý trong tháng 7 không nằm ở mức giảm 6,2% của VN-Index (xuống 1.744,66 điểm vào ngày 30/7), mà là bản chất của nhịp điều chỉnh. Áp lực tập trung ở nhóm vốn hóa vừa và nhỏ cho thấy khẩu vị rủi ro thu hẹp và các vị thế có đòn bẩy chịu sức ép, chứ chưa phải sự phủ định triển vọng kinh tế.

Thanh khoản gia tăng trong các phiên giảm mạnh cho thấy lực cầu vẫn chủ yếu hấp thụ lượng cung ở vùng giá thấp, chưa sẵn sàng chủ động nâng giá.

Ông Lê Quang Hải, Trưởng phòng Tư vấn Đầu tư, Chi nhánh Đà Nẵng - Chứng khoán Yuanta Việt Nam

Khối ngoại bán ròng khoảng 11.300 tỷ đồng trong 22 phiên tính đến ngày 30/7, nối tiếp đà bán ròng gần 15.400 tỷ đồng của tháng 6. Khi lợi suất tài sản bằng USD và giá dầu cùng tăng, nhà đầu tư đòi hỏi phần bù rủi ro cao hơn ở thị trường mới nổi. Khả năng vốn ngoại quay lại một cách bền vững vẫn phụ thuộc tăng trưởng lợi nhuận và sự ổn định của tỷ giá.

Kinh tế thực vẫn là điểm tựa: GDP sáu tháng đầu năm tăng 8,18%, trong đó lĩnh vực chế biến, chế tạo tăng 10,23%. Tuy nhiên, CPI bình quân tăng 4,38% và lạm phát cơ bản tăng 4,12%, khiến dư địa hạ lãi suất hẹp hơn. Thị trường chuyển từ “mua câu chuyện vĩ mô” sang kiểm tra ngành nào biến được tăng trưởng thành lợi nhuận trên mỗi cổ phần.

Kết quả kinh doanh quý II: tăng trưởng vẫn cao, nhưng phân hóa rõ hơn

Đến ngày 27/7, 574 trong 1.638 doanh nghiệp niêm yết đã công bố báo cáo hoặc ước tính kết quả quý II, đại diện 31,8% vốn hóa, với lợi nhuận sau thuế tăng 23,5%, thấp nhất trong bốn quý.

Điều đáng quan tâm không phải tốc độ tăng trưởng, mà là chất lượng của mức tăng khi một số ngành vẫn phụ thuộc vào nền so sánh thấp, giá hàng hóa hoặc thu nhập bất thường. Vì vậy, cần nhìn cơ chế tạo lợi nhuận và triển vọng trong nửa cuối năm.

Tài chính: chất lượng tăng trưởng quyết định cơ hội

Tính đến ngày 27/7, 13 trong 28 ngân hàng, đại diện 38,4% vốn hóa ngành, công bố kết quả kinh doanh quý II với lợi nhuận sau thuế tăng 13,1%, thấp hơn mức 16,6% của quý I. Dù tăng trưởng vẫn tích cực, biên lãi ròng (NIM) và chất lượng tài sản sẽ quyết định khả năng duy trì lợi nhuận. Cơ hội không nằm ở ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhất, mà ở ngân hàng duy trì được chi phí vốn thấp, bộ đệm dự phòng dày và ROE bền vững.

Trong quý II, 75 công ty chứng khoán đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 15.100 tỷ đồng, tăng 49% so với cùng kỳ; 64 công ty có lãi, 11 công ty thua lỗ. Khi giao dịch bình quân giảm so với quý I, các mảng margin, tự doanh và ngân hàng đầu tư đã bù đắp sự suy yếu của doanh thu môi giới.

Quy mô tài sản lớn giúp các công ty chứng khoán duy trì khả năng sinh lời khi giao dịch chậm lại, nhưng cũng làm lợi nhuận nhạy hơn với chi phí vốn, tài sản bảo đảm và lãi tự doanh chưa thực hiện. Nâng hạng có thể mở rộng thị trường; trước mắt, nguồn thu đa dạng và kỷ luật cho vay mới là lợi thế bền vững.

Bất động sản: lợi nhuận vẫn phản ánh quá khứ

Với nhà ở, doanh thu chủ yếu ghi nhận khi bàn giao nên lợi nhuận quý II phản ánh hoạt động bán hàng của các quý trước. Vì vậy, cần theo dõi doanh số ký mới, dòng tiền và tiến độ pháp lý thay vì chỉ nhìn lợi nhuận.

Lãi vay mua nhà cao khiến sức hấp thụ phân hóa: dự án đầy đủ pháp lý, phục vụ nhu cầu ở thực vẫn có thể bán; dự án dựa vào kỳ vọng tăng giá sẽ khó hơn. Chính sách có thể rút ngắn thủ tục, nhưng không tự giảm nghĩa vụ tiền đất hay tạo sức mua.

Bất động sản khu công nghiệp thuận lợi hơn nhờ FDI, song lợi nhuận vẫn phụ thuộc thời điểm bàn giao và đôi khi có khoản đền bù đất. Quỹ đất chỉ tạo giá trị khi được chuyển thành dự án, doanh thu và dòng tiền.

Bán lẻ - tiêu dùng: phục hồi chưa lan tỏa

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm tăng 12,9%; sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng còn 7,3%.

Cơ hội nửa cuối năm nằm ở doanh nghiệp cải thiện đồng thời doanh thu trên cửa hàng hiện hữu, biên lợi nhuận và vòng quay tồn kho. Tăng doanh số bằng khuyến mại sâu, mở mới quá nhanh hoặc tích hàng trước khi cầu thực đủ mạnh sẽ làm chất lượng dòng tiền suy yếu.

Sản xuất: sản lượng tăng chưa đủ bảo đảm lợi nhuận

IIP sáu tháng tăng 10,8%, PMI tháng 6 đạt 51,8 điểm; trong mẫu 574 doanh nghiệp, dầu khí, điện - đặc biệt là nhiệt điện - và dược phẩm nổi bật. Ngược lại, thủy sản suy giảm, may mặc chậm lại và hiệu ứng đầu tư công ở nhiều doanh nghiệp xây dựng chưa rõ.

Thép minh họa rõ khoảng cách giữa sản lượng và lợi nhuận. Sản lượng thép thô sáu tháng tăng 26,9%, nhưng nếu quặng sắt, than luyện cốc và chi phí tài chính tăng nhanh hơn giá bán, biên lợi nhuận vẫn có thể co lại.

Điều đáng quan tâm không chỉ là ngành có tốc độ tăng sản lượng cao, mà là doanh nghiệp có quyền định giá, công suất sử dụng cao và vòng quay vốn lưu động không xấu đi. Đầu tư công, FDI và nhu cầu điện tạo cơ hội; giá đầu vào, tỷ giá và hàng rào thương mại quyết định phần nào ở lại trong lợi nhuận.

Chất lượng lợi nhuận: dòng tiền là phép thử

Lợi nhuận có thể phản ánh đúng về mặt kế toán, nhưng vẫn chưa phải tín hiệu đầu tư tốt nếu không có tính bền vững hoặc không chuyển hóa thành dòng tiền. Dòng tiền kinh doanh cùng sự biến động của các khoản phải thu và tồn kho cho biết lợi nhuận đã chuyển thành tiền đến đâu.

Logic này đặc biệt quan trọng ở nhóm hưởng lợi từ chính sách. Backlog đầu tư công mới chứng minh có việc; giá trị hợp đồng còn phải đi qua thi công, nghiệm thu và thu tiền. Pháp lý bất động sản được tháo gỡ chưa đồng nghĩa dự án bán được hàng. Thuế Section 301 bổ sung 12,5% của Mỹ từ quý III cũng chỉ tác động tới hàng thuộc phạm vi áp dụng; phải xét mã hàng, tỷ trọng doanh thu tại Mỹ và khả năng chuyển chi phí, không thể quy đồng cả ngành.

Thông điệp khá rõ: lợi nhuận vẫn đủ nâng đỡ thị trường, nhưng độ rộng chưa đủ để chiến lược mua dàn trải có xác suất thắng cao. Định giá cao hơn chỉ nên dành cho ngành và doanh nghiệp có lợi nhuận lặp lại, được dòng tiền xác nhận và không đánh đổi bằng rủi ro bảng cân đối.

Thế giới: rủi ro được định giá lại

Tháng 7 không báo hiệu suy thoái đồng bộ; điều thay đổi là giá của rủi ro. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất, trong khi lạm phát còn cao khiến khả năng nới lỏng sớm chính sách tiền tệ vẫn hạn chế. Lợi suất trái phiếu Mỹ tăng khiến tài sản Việt Nam phải cạnh tranh với mức sinh lời USD hấp dẫn hơn.

Giá dầu Brent tămg trong tháng 7, làm gia tăng áp lực lên lạm phát, tỷ giá và biên lợi nhuận doanh nghiệp tại Việt Nam. Khi lợi suất trái phiếu Mỹ, USD và giá dầu cùng duy trì ở mức cao, danh mục nên nghiêng về doanh nghiệp ít nợ, dòng tiền tốt và chuyển được chi phí.

Giai đoạn cuối năm: ba động lực, ba độ trễ

Đến ngày 26/6/2026, dư nợ toàn hệ thống ngân hàng tăng 7,41% so với cuối năm 2025, so với định hướng cả năm khoảng 15%. Dư địa còn lại chỉ tạo giá trị khi huy động vốn theo kịp, NIM không co mạnh và vốn đi vào nhu cầu có khả năng trả nợ.

Tính đến hết tháng 6, cả nước giải ngân 356.900 tỷ đồng vốn đầu tư công, bằng 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; tiến độ giải ngân còn dư địa lớn trong nửa cuối năm. Giá cổ phiếu có thể phản ứng sớm với kỳ vọng giải ngân; lợi nhuận chỉ cải thiện ở nhà thầu có công trường sẵn sàng, đơn giá phù hợp và thu hồi công nợ tốt.

Nâng hạng là câu chuyện dài nhất. Việt Nam sẽ vào nhóm thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell từ ngày 21/9. Lợi ích bền vững là giảm rào cản tiếp cận; nhưng vốn thụ động vào theo lộ trình, vốn chủ động vẫn nhìn định giá, thanh khoản và tỷ giá.

Nghị quyết 254/2025/QH15 cùng Nghị định 49/2026/NĐ-CP và Nghị định 50/2026/NĐ-CP đã làm rõ thẩm quyền, thủ tục đất đai và nghĩa vụ tài chính. Đây là điều kiện cần để rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, nhưng không đồng nghĩa chi phí đất thấp hơn. Tác động lên kết quả kinh doanh vẫn phụ thuộc tiến độ hoàn tất pháp lý, khả năng bán hàng và thu tiền của từng doanh nghiệp.

Kịch bản cơ sở là thị trường tích lũy trong quý III và cải thiện dần trong quý IV nếu giá năng lượng hạ nhiệt, VND ổn định, lợi nhuận lan rộng và đầu tư công chuyển thành nghiệm thu. Kịch bản tích cực cần vốn ngoại trở lại; kịch bản thận trọng xuất hiện nếu lợi suất trái phiếu Mỹ, USD và giá dầu Brent cùng tăng. Khác biệt nằm ở chi phí vốn và tốc độ biến kỳ vọng thành tiền.

Chiến lược đầu tư: chờ tín hiệu thị trường và sàng lọc cổ phiếu

Một tín hiệu có thể kích hoạt giải ngân là giá trị khớp lệnh trên HOSE bình quân 5 phiên duy trì trên 25.000 tỷ đồng/phiên, không tính thỏa thuận. Quyết định đầu tư nên dựa trên diễn biến của năm phiên gần nhất. Khi thanh khoản duy trì trên ngưỡng, có thể nâng tỷ trọng từng bước, nhưng độ rộng thị trường và nhóm dẫn dắt vẫn phải xác nhận.

Sau khi xác nhận tín hiệu của thị trường, bước tiếp theo là sàng lọc cổ phiếu. RS Rating chỉ là tiêu chí sàng lọc ban đầu; quyết định đầu tư vẫn cần được xác nhận bằng nền giá, thanh khoản và tăng trưởng lợi nhuận.

Danh sách chờ sàng lọc có thể bao gồm: đầu tư công và hạ tầng với HHV, VCG, C4G, LCG; xây dựng với CTD, FCN, PC1; ngân hàng quốc doanh với VCB, CTG, BID.

Thứ tự hành động là xác nhận thanh khoản, lọc sức mạnh tương đối, rồi kiểm tra chất xúc tác bằng lợi nhuận và dòng tiền. Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên, nhà đầu tư chỉ nên duy trì tỷ trọng nhỏ mang tính thăm dò.

Lê Quang Hải
Trưởng phòng Tư vấn Đầu tư, Chi nhánh Đà Nẵng - Chứng khoán Yuanta Việt Nam

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục